Kho tàng “trí tuệ biển” của cư dân vạn chài Hạ Long

     Từ bao đời nay, cuộc sống của ngư dân vạn chài gắn liền với con thuyền và mặt nước. Thuyền là nhà, biển là quê hương sinh kế phụ thuộc vào con nước, con cá. Chính môi trường sống đặc biệt ấy đã hình thành nên những sinh hoạt văn hóa mang đậm dấu ấn biển đảo. Nếu cư dân đồng bằng Bắc Bộ có hội làng, đình làng làm trung tâm sinh hoạt cộng đồng thì với cư dân vạn chài Hạ Long, không gian văn hóa lại là khoang thuyền và mặt biển mênh mông.

Vịnh Hạ Long không chỉ là nơi mưu sinh của cư dân vạn chài mà còn là nơi cất giấu kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc (Ảnh sưu tầm)

     Kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ phản ánh đời sống thường nhật của  người dân luôn đa dạng, muôn màu, muôn vẻ. Gắn bó chặt chẽ với nghề biển, cư dân nơi đây đã đúc kết kinh nghiệm đi biển lúc trời yên, sóng êm, khi gió “Bấc lặng về hôm, nồm lặng về sớm”,“Một ngày nồm ra, ba ngày bấc xuống”, hay lúc có bão: 

“Trông lên lá lật trắng phau

Liệu đường chèo chống mau mau bão về”.

“Yên lòng bọt biển trắng phau

Hễ trở màu xám bão đâu rập rình"

Nếu cố tình ra khơi ngày bão thì có những lời cảnh báo bằng cách chơi chữ: 

“Mồng Mười tháng Ba

Giỗ cha thằng ngoẹo

Muốn ăn cá nghéo

Thì chạy ra khơi”

Có khi nghe tiếng sấm lại là khi an toàn:

 “Rập rình tưởng bão sắp vào

 Tai nghe sấm động thở phào bão đi”

     Ngư dân Quảng Ninh còn đúc kết: “Đầu động, cuối yên”. Khi bão chưa đến, biển hơi động, cá xô vào gần bờ phải tranh thủ bắt. Khi bão tan, biển yên rồi mới được đi đánh cá.

     Cùng với gió, ngư dân rất quan tâm đến con nước:“Tháng chín nước vịnh chân cơ/ Mẹ con nhà siệng bơ vơ đầu gềnh”. Nghĩa là, nếu tháng chín mà trong ngày nước không lên xuống thì người làm nghề cá sẽ rất khó khăn. Quan trọng nữa là mưa: “Tháng bảy, mưa gãy cành trám”; “Mùng chín tháng chín không mưa/ Mẹ con mang bán cày bừa mà ăn”; “Bao giờ sấm chớp chùa Lôi/ Con ơi trở dậy mang nồi ra sân” v.v… 

     Cư dân vạn chài còn nằm lòng quy luật con nước, thời điểm đánh bắt và đặc tính riêng của từng loài hải sản:“Tôm chạng vạng/ Cá rạng đông”;“Trời trong trăng tỏ/ Nước đục ngầu ngầu/ Cha con bảo nhau/ Chèo mau cập bến/ Cá bể mùa đông/ Cá sông mùa hè”. Hay như: “Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa/ Tháng Giêng tố dài, tháng hai tố ngắn/ Tháng bảy nước nhảy lên bờ/ Tháng Giêng, tháng Hai kéo chài không kịp”.

 Ngư dân mách nhau đặc điểm mỗi loài cá: 

“Nước chảy xuôi, cá buôi bơi ngược

Nước chảy ngược, cá vược bơi ngang”

Bắt được cá rồi thì kinh nghiệm ẩm thực các cụ cũng rất coi trọng:

“Thứ nhất phải là cá song

Thứ nhì cá vược nếu không cá ngừ

Dẫu rằng có ốm lừ khừ

Ăn bát cháo cá từ từ khoẻ ra”

     Một con cá cũng phải biết lựa chọn những phần ngon nhất:“Bám ruộng đầu cầu/ Ăn đầu cá đối”

     Còn cá rô phải biết chọn ăn vào dịp tháng tám cá béo nhất:“Cá rô tháng tám chẳng dám bảo ai/ Cá rô tháng hai bảo ai thì bảo”
     Đó là tri thức dân gian vô cùng uyên bác, tinh tường, đầy ắp trí tuệ đồng thời rất thiết thực, hữu dụng, được đúc kết từ kinh nghiệm sống, đối nhân xử thế, cách ứng xử với thiên nhiên, cách thức sinh hoạt, làm lụng của cư dân nơi đây.

Tri thức dân gian được cất giấu trong những câu ca dao, tục ngữ của người dân làng biển Hạ Long (Ảnh Sưu tầm)

     Một trong những giá trị nổi bật nhất là hệ thống dân ca và diễn xướng dân gian của ngư dân vùng vịnh. Các làn điệu như hát chèo đường, hò biển, hát đúm hay hát giao duyên trên thuyền đều phản ánh đời sống lao động và tình cảm chân thật của người dân miền biển. Những câu hát không cầu kỳ về ngôn từ nhưng giàu cảm xúc, vừa để giải khuây trong những đêm lênh đênh, vừa là cách con người kết nối với nhau giữa biển trời rộng lớn.

“Hát cho nên vợ nên chồng

Hát nên tình bạn tâm đồng tương giao”

     Ở đó, lời ca không chỉ là nghệ thuật mà còn trở thành “nhịp cầu” gắn kết cộng đồng. Đó là chiếc cầu nối tình cảm của cư dân vạn chài Hạ Long với lời ca phong phú đủ các cung bậc cảm xúc, để các con thuyền xích lại gần nhau và làm cho trái tim cùng chung nhịp đập như những câu hát còn ngân vang mãi. Trong môi trường lao động nhiều nhọc nhằn, tiếng hát giúp con người vơi bớt cô đơn, tiếp thêm tinh thần để bám biển mưu sinh.

“Trên mây sa

Dưới hòn Gà Chọi

Anh hát câu này anh gọi nàng ra

Những lời mình hát đêm qua

Đêm nay hát nữa mau ra hát cùng

Hát cho con gái có chồng

Con trai có vợ, nạ dòng có con…”

     Điểm độc đáo của văn hóa nghệ thuật vạn chài Hạ Long còn nằm ở sắc thái trữ tình, hiền hòa rất riêng. Khác với những điệu hò miền Trung thường mạnh mẽ, dồn dập để chống chọi sóng gió khắc nghiệt, dân ca vùng biển Hạ Long lại mềm mại, sâu lắng hơn.
 

Tái hiện hát đám cưới của cư dân làng chài trên vịnh Hạ Long trước đây (ảnh sưu tầm)

     Không chỉ có dân ca, kho tàng truyền thuyết dân gian ở Hạ Long cũng đặc biệt phong phú. Từ truyền thuyết Rồng mẹ hạ giới giúp người Việt đánh giặc, tạo nên hàng nghìn đảo đá trên Vịnh, đến các thần tích về những bậc tiền nhân khai phá vùng biển đảo Đông Bắc đều phản ánh khát vọng sinh tồn, tinh thần yêu nước và niềm tin tâm linh của cư dân miền biển. Những câu chuyện ấy được kể trong mỗi chuyến ra khơi, trong đêm biển lặng hay trong các lễ hội truyền thống, góp phần nuôi dưỡng tình yêu quê hương và ý thức gìn giữ biển đảo cho thế hệ sau.

     Ngày nay, trước sự thay đổi của đời sống hiện đại, các làng chài truyền thống đã di dời lên bờ, nhưng những giá trị văn hóa nghệ thuật của cư dân vạn chài vẫn đang được nỗ lực bảo tồn. Giữa không gian kỳ vĩ của biển trời Hạ Long, những câu hát mộc mạc của ngư dân vạn chài vẫn vang lên như tiếng lòng của biển cả. Đó không chỉ là di sản văn hóa phi vật thể quý giá mà còn là linh hồn của vùng di sản – nơi con người đã bao đời sống chan hòa với thiên nhiên, gửi gắm tâm hồn mình trong từng con sóng, mái chèo và lời ca trên mặt vịnh. 

(Tài liệu Nhận diện, đánh giá những giá trị văn hóa tiêu biển, độc đáo trên vịnh Hạ Long - 2024)

Nguyễn Thị Hà Linh