Tam tổ Trúc Lâm: Biểu tượng trí tuệ và tinh thần tự chủ của của dân tộc
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không chỉ là một dòng thiền đơn thuần, mà là hiện thân của một nền Phật giáo độc lập, mang đậm bản sắc tâm hồn Việt. Đứng đầu dòng thiền ấy là ba bậc thánh nhân mà hậu thế tôn kính gọi là Tam Tổ Trúc Lâm. Việc tìm hiểu về cuộc đời và đạo nghiệp của các Ngài chính là chìa khóa để giải mã những giá trị di sản vô giá tại quần thể danh thắng Yên Tử.

1. Đệ Nhất Tổ: Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308)
Đệ nhất Tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ 1258, tên húy là Trần Khâm, vị hoàng đế thứ ba của triều Trần. Ngài là người hội tụ đầy đủ đức tính của một bậc quân vương lỗi lạc và một hành giả uyên thâm. Sau khi lãnh đạo dân tộc chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược, Ngài đã từ bỏ ngai vàng, nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để lên núi Yên Tử tu hành vào năm 1299 và sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử - dòng thiền thuần Việt. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời trên cơ sở kế thừa những tư tưởng, tinh hoa của ba dòng thiền (Tì-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường) và tinh thần tích cực của Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo), Tam tông (Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông trong Phật giáo), hòa đồng cùng với tín ngưỡng văn hóa dân gian, mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang tinh thần nhập thế mạnh mẽ và tích cực“hòa quang đồng trần”, hòa vào đời để tu hành, thể hiện tính bình đẳng, thống nhất, thể hiện sự gắn kết giữa Đạo với Đời, với quan điểm xuất gia hay tại gia đều với mục đích làm cho tốt đời đẹp đạo, quốc thái dân an. Thiền phái Trúc Lâm nhấn mạnh Phật ở trong tâm của mỗi con người, không phải tìm kiếm ở bên ngoài, phải có sự soi sáng lại chính mình“ phản quan tự kỷ” sẽ thấy mình là Phật “ Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm”...
Ngài đã để lại cho đời nhiều áng thơ ca bất hủ như “Cư trần lạc đạo phú":
“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói thì hãy ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”
Ngài dùng đạo Phật để gắn kết lòng dân, xây dựng một quốc gia hùng mạnh từ bên trong bằng tinh thần từ bi và trí tuệ.
Ngày 03 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) Ngài viên tịch tại Am Ngọa Vân trên dãy núi Yên Tử. Thi hài của Ngài được hỏa táng. Một phần xá lợi của Ngài được vua Trần Anh Tông thờ ở Huệ Quang Kim Tháp trước chùa Vân Yên (Hoa Yên) trên núi Yên Tử.
2. Đệ Nhị Tổ: Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284 – 1330)
Pháp Loa (tên thật là Đồng Kiên Cương), sinh ngày mùng 7 tháng 5 năm Giáp Thân 1284 tại phủ Nam Sách, Hải Dương (cũ). Ngài được Phật Hoàng trực tiếp thu nhận và truyền trao y bát khi nhận ra tư chất thông tuệ đặc biệt của Ngài.
Ông là người đã có những đóng góp vĩ đại trong việc kiến thiết chùa chiền: Dưới sự dẫn dắt của Ngài, Phật giáo Trúc Lâm phát triển cực thịnh. Ngài đã cho xây dựng hàng trăm ngôi chùa, am tháp lớn nhỏ, trong đó có chùa Quỳnh Lâm (trung tâm đào tạo tăng tài lớn nhất thời bấy giờ) và chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh). Ngài là người đầu tiên tổ chức in khắc Đại tạng kinh tại Việt Nam, tạo nền tảng lý luận vững chắc cho dòng thiền. Ngoài ra Pháp Loa đã đặt ra quy chế, lập sổ bộ tăng sĩ, đưa Phật giáo vào tổ chức quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ nhưng vẫn giữ được sự thanh tịnh.
Ngài viên tịch ngày 03 tháng 3 năm Canh Ngọ 1330, hưởng thọ 47 tuổi. Xá lợi của Ngài được thờ trong bảo tháp Viên Thông phía sau chùa Thanh Mai ở Chí Linh, tỉnh Hải Dương ( cũ) nay là thành phố Hải Phòng.
3. Đệ Tam Tổ: Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254 – 1334)
Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, quê ở Bắc Ninh, sinh năm 1254 trong một gia đình thuộc dòng dõi quan lại thời Lý. Ngài từng đỗ Trạng Nguyên và làm quan trong triều đình.
Năm 51 tuổi, trong lần đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe thiền sư Pháp Loa thuyết pháp, Ngài đã ngộ đạo, sau đó xin từ quan để xuất gia học Phật và trụ trì chùa Vân Yên (Hoa Yên, Yên Tử).
Năm 77 tuổi, Ngài chính thức được Đệ nhị Tổ Pháp Loa truyền trao y bát và trở thành Đệ tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử. Ngài có công lớn trong việc tu bổ chùa Vân Yên (Yên Tử) và phát triển chùa Côn Sơn (Hải Phòng) trở thành trung tâm văn hóa lớn. Ngài là người có tâm hồn thơ ca phong phú. Thơ của Ngài không khô khan mà tràn đầy cảm xúc, giúp đạo Phật trở nên gần gũi, thanh cao.
Ngài viên tịch ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất 1334, hưởng thọ 81 tuổi. Xá lợi của Ngài được thờ trong bảo tháp Chiêu Minh phía sau chùa Côn Sơn ở Chí Linh, tỉnh Hải Dương (cũ) nay thuộc thành phố Hải Phòng.
Sự kết hợp giữa ba vị Tổ tạo nên một kiềng ba chân vững chắc cho văn hóa Việt Nam: Nếu như Trần Nhân Tông đại diện cho ý chí dân tộc và sự hòa hợp đạo - đời thì Pháp Loa đại diện cho năng lực tổ chức, xây dựng và hệ thống lý luận còn Huyền Quang đại diện cho vẻ đẹp trí tuệ, nghệ thuật và chiều sâu tâm hồn. Tam Tổ Trúc Lâm không chỉ để lại những ngôi chùa cổ kính hay những pho tượng uy nghi, mà cái quý giá nhất các Ngài để lại chính là "lòng tự hào dân tộc". Họ chứng minh rằng người Việt có đủ khả năng xây dựng một hệ thống triết học tâm linh riêng, không lệ thuộc vào ngoại bang, lấy con người và sự an lạc của quốc gia làm gốc.
Khi tham quan di sản Yên Tử, du khách có thể chiêm bái tượng Tam Tổ Trúc Lâm tại các vị trí quan trọng như: Chùa Hoa Yên: Nơi các Ngài từng tu tập và giảng kinh, Huệ Quang Kim Tháp: nơi lưu giữ xá lợi của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, và hệ thống chùa am trải dài từ Đông Triều đến đỉnh thiêng Yên Tử. Ngoài ra tượng Tam Tổ Trúc Lâm còn được thờ trang nghiêm tại nhiều ngôi cổ tự và thiền viện danh tiếng trên khắp Việt Nam.
Đỗ Ngọc Quyên