Bảo tàng Gene của Di sản vịnh Hạ Long

Không có tủ kính, không có hiện vật trưng bày – “bảo tàng” ấy đang sống giữa những đảo đá và mặt biển Hạ Long. 

Khi nhắc đến vịnh Hạ Long, người ta thường nghĩ đến những đảo đá muôn hình, những hang động kỳ vĩ và mặt biển xanh trải dài đến tận đường chân trời. Nhưng phía sau vẻ đẹp đã trở thành biểu tượng ấy còn có một Hạ Long khác – Hạ Long của sự sống. Giữa những vách đá vôi, khe đá, khu rừng trên đảo và vùng biển bao quanh là những hệ sinh thái đặc biệt, nơi nhiều loài sinh vật đã thích nghi với điều kiện sống rất riêng của vùng biển đảo đá vôi. Có thể gọi Hạ Long bằng một hình ảnh giàu sức gợi: Một “bảo tàng gene” nơi gìn giữ những nguồn gen, quần thể sinh vật và loài đặc hữu vẫn đang được lưu giữ ngay trong môi trường tự nhiên của chúng. Theo thống kê, trên vịnh Hạ Long hiện có hơn 3.000 loài động, thực vật phân bố trong các kiểu hệ sinh thái đặc thù của quần đảo đá vôi nhiệt đới: HST rừng mưa nhiệt đới, HST hang động, HST rừng ngập mặn, HST vùng triều, HST rạn san hô, HST tùng áng (hồ nước mặn)…

Hạ Long là một trong những ví dụ tiêu biểu về cảnh quan karst tháp nhiệt đới bị biển xâm lấn. Hàng trăm đảo đá, vách núi, hang động và các dạng địa hình khác nhau tạo nên một hệ thống sinh cảnh đa dạng. Đặc biệt là những đảo đá ấy không chỉ tạo nên cảnh quan, chúng còn tạo ra những không gian sống rất khác nhau: nơi nhiều nắng, nơi ẩm ướt, những khe đá có lớp đất mỏng, những vách đá dựng đứng, những vùng ven biển chịu tác động của thủy triều hay những hang động gần như biệt lập với bên ngoài. Mỗi dạng địa hình lại tạo ra những điều kiện khác nhau về ánh sáng, nước, độ ẩm, chất nền, độ mặn và nguồn dinh dưỡng. Qua thời gian, sinh vật phải tìm cách thích nghi với chính những điều kiện ấy và mỗi loài tồn tại hôm nay chính là một phần của câu chuyện thích nghi đó. 

Có một cách rất đặc biệt để một địa danh có giá trị như thế nào đối với khoa học tự nhiên. Đó chính là những cái tên mà các nhà khoa học đã cho những loài sinh vật được tìm thấy ở đó. Hạ Long hiện ghi nhận 15 loài thực vật đặc hữu có những cái tên như: Cọ Hạ Long – Livistona halongensis, Móng tai Hạ Long – Impatiens halongensis, Chân chim Hạ Long – Schefflera alongensis, Nhài Hạ Long – Jasminum alongensis, Cầy ri Hạ Long – Chirita halongensis, Nan ông Hạ Long – Pilea alongensis, Sóng bè Hạ Long – Paraboea halongensis, Sung Hạ Long – Ficus alongensis… Những hậu tố như “halongensis” hay “alongensis”mang trong mình dấu ấn của địa danh Hạ Long – như một cách để khoa học ghi lại nơi một loài được phát hiện, nghiên cứu hoặc gắn bó về mặt phân bố, có thể chỉ là một loài cây, một loài hoa nhỏ bé những tên khoa học của nó lại mang theo của cả một di sản. Hạ Long xuất hiện trong câu chuyện khoa học không chỉ là một địa danh trên bản đồ mà như nơi lưu giữ một phần đa dạng sinh học đặc biệt của vùng đá vôi ven biển. Những loài cây mang tên Hạ Long có thể được xem như những hiện vật sống của bảo tàng tự nhiên này, chúng lưu giữ trong quần thể của mình những giá trị di truyền được hình thành qua quá trình thích nghi lâu dài với môi trường.

Mỗi loài cây, mỗi loài hoa nhỏ bé những tên khoa học của nó lại mang theo tên của cả một di sản(Ảnh BQLDS)

Để kể câu chuyện về “bảo tàng gene” Hạ Long thì hãy để Cọ Hạ Long (Livistona halongensis) lên tiếng. Cọ Hạ Long được TS Nguyễn Tiến Hiệp (Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật) và TS Ruth Kiew (Vườn Thực vật Singapore) phát hiện vào năm 1999 trong khuôn khổ dự án Nghiên cứu thực vật tự nhiên vịnh Hạ Long. Đây là chương trình hợp tác giữa Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Ban Quản lý vịnh Hạ Long (nay là Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử). Việc phát hiện loài cọ mới này không chỉ bổ sung thêm một loài cho chi Livistona, đồng thời làm phong phú thêm thành phần loài cọ của Việt Nam và thế giới. 

Vậy nguồn gen có nghĩa là gì? Hiểu đơn giản, gene là một phần của vật chất di truyền giúp lưu giữ thông tin sinh học của sinh vật. Một quần thể sinh vật không chỉ gồm những cá thể giống hệt nhau. Trong quần thể tồn tại các biến dị di truyền khác nhau. Chính sự đa dạng đó là một phần nguyên liệu để sinh vật thích nghi với môi trường và giúp quần thể có khả năng đáp ứng trước những thay đổi. Vì thế, khi một loài chỉ tồn tại trong một phạm vi địa lý rất hẹp, sự mất đi của quần thể đó không đơn thuần là mất một “cái tên” trong danh sách các loài mà còn có thể là sự mất đi của một phần lịch sử tiến hóa được lưu giữ trong quần thể ấy. Đây chính lý do khái niệm “bảo tồn nguồn gen” ngày càng quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học. Và cũng từ đây, hình ảnh “bảo tàng gene Hạ Long” trở nên dễ hiểu hơn, nó không nằm cất giữ trong tủ kính, khay đựng cụ thể mà nguồn gen ấy được cất giữ trong những thực thể sống, trong một loài cây trên đảo, một loài hoa mọc giữa khe đá, trong những quần thể sinh vật đang tồn tại trong môi trường tự nhiên của chúng – nơi các đặc điểm thích nghi tiếp tục được duy trì qua các thế hệ.

 

Các hệ sinh thái đặc trưng của khu vực vịnh Hạ Long (Ảnh BQLDS)

Nếu chỉ nói về thực vật, chúng ta mới nhìn thấy một phần của “bảo tàng” ấy. Vịnh Hạ Long là một hệ thống liên kết giữa đảo – rừng – hang động – vùng triều – đáy biển – rạn san hô – thảm cỏ biển và các sinh cảnh ven bờ. Các tài liệu về đa dạng sinh học của Hạ Long ghi nhận khoảng 3.000 loài thực vật và động vật, trong đó có các loài trên cạn và các nhóm sinh vật biển bao gồm phù du thực vật, phù du động vật, san hô, cá và nhiều nhóm khác, nhiều loài nằm trong các danh mục bảo tồn quốc tế và quốc gia. Những sinh vật nhỏ bé cũng là một phần của di sản, một khe đá có thể là nơi trú ngụ của một loài thực vật, một hang động có thể tạo nên môi trường sống khác biệt, một vùng triều có thể trở thành nơi sinh sống của nhiều nhóm sinh vật biển, một rạn san hô không chỉ là “một khối san hô”, mà là một hệ sinh thái với nhiều loài cùng tồn tại. Chính sự kết nối giữa các sinh cảnh ấy tạo nên đa dạng sinh học ở cấp độ hệ sinh thái, loài và di truyền.Vì vậy, bảo tồn Hạ Long không thể chỉ là bảo vệ một vài loài nổi tiếng mà còn là bảo vệ nơi sống, mối quan hệ sinh thái và quá trình tự nhiên giúp các loài tiếp tục tồn tại. 

Điều làm nên giá trị của nguồn gene không chỉ nằm ở việc một loài có hiếm hay không. Đó còn là những thông tin di truyền được tích lũy qua nhiều thế hệ – những “dấu vết” của quá trình sinh vật thích nghi với môi trường sống. Bởi vậy, khi một quần thể sinh vật biến mất khỏi tự nhiên, chúng ta không chỉ mất đi một loài trong danh sách. Chúng ta có thể mất đi một phần lịch sử tiến hóa mà thiên nhiên đã mất rất lâu để tạo nên. Đây cũng là lý do bảo tồn đa dạng sinh học ngày nay không chỉ dừng ở việc bảo vệ những loài nổi tiếng, mà còn phải bảo vệ sinh cảnh và các quần thể tự nhiên nơi những nguồn gen ấy tiếp tục được duy trì.

Một bảo tàng thông thường có thể kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và bảo vệ hiện vật sau lớp kính. Một “bảo tàng gene” trong tự nhiên thì hoàn toàn khác vì bảo tàng ấy phải đối mặt với những biến đổi của môi trường, tác động của con người, du lịch, biến đổi khí hậu, thay đổi sinh cảnh và sự suy giảm số lượng của những quần thể vốn đã nhỏ. Đây là lý do bảo tồn đa dạng sinh học không thể tách rời khỏi quản lý du lịch, một chuyến tàu đi qua không chỉ cần bảo đảm an toàn cho hành khách, điểm tham quan không chỉ cần đẹp để chụp ảnh, những đảo đá không chỉ là phông nền cho một bức hình mà mỗi nơi trong hệ thống di sản còn có thể là một phần của một hệ sinh thái sống.

Vịnh Hạ Long là nơi hội tụ của địa chất đặc biệt, nhiều hệ sinh thái, các loài đặc hữu và những nguồn tài nguyên di truyền có giá trị bảo tồn. Giá trị ấy nằm trong sự kết nối giữa đá vôi – biển – rừng – hang động – sinh vật – gene – và thời gian. Các nghiên cứu khoa học đã ghi nhận giá trị sinh học nổi bật trong đó có sự hiện diện của các loài đặc hữu và bị đe dọa và cũng đang tiếp tục phát hiện, định danh và đánh giá những loài sinh vật sống trong hệ sinh thái đặc thù này. Đó là lý do đến vịnh Hạ Long không chỉ là để ngắm nhìn, để tận hưởng thiên nhiên mà Hạ Long còn là đối tượng để nghiên cứu, hiểu đúng và bảo tồn. Hạ Long không chỉ lưu giữ những dấu tích của thời gian trên đá vịnh Hạ Long còn lưu giữ những ký ức của sự sống trong từng loài cây, từng quần thể sinh vật và từng nguồn gen giữa biển đảo.

Di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long không chỉ lưu giữ những dấu tích của thời gian trong những đảo đá và hang động về quá trình hình thành, biến đổi của cảnh quan karst qua thời gian địa chất, mà còn lưu giữ những câu chuyện của sự sống trong từng loài cây, quần thể và hệ sinh thái, mỗi loài đặc hữu là một phần ký ức sinh học của vùng đất, mỗi sinh cảnh được bảo vệ là một cơ hội để những giá trị ấy tiếp tục tồn tại. Và bảo tồn di sản thiên nhiên không chỉ là giữ lại một cảnh đẹp, đó còn là bảo vệ môi trường sống của các loài, hạn chế tác động lên những sinh cảnh nhạy cảm, duy trì các quần thể tự nhiên và tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn những giá trị mà di sản đang sở hữu và xác định bảo vệ tính toàn vẹn và các giá trị sinh học là một phần quan trọng trong công tác quản lý Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. 

Nguyễn Hà Linh