Vịnh Hạ Long trong thơ văn Việt Nam: Từ cảm hứng trung đại đến thơ văn đương đại

 


Có những thắng cảnh được tạo nên bởi thiên nhiên, nhưng chỉ thực sự trở thành di sản khi được lưu giữ trong ký ức văn hóa của con người. Vịnh Hạ Long là một trường hợp như vậy. Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất và hàng nghìn năm lịch sử, vùng biển với gần 2.000 hòn đảo đá vôi không chỉ được UNESCO hai lần ghi danh là Di sản thiên nhiên thế giới mà còn trở thành một trong những không gian nghệ thuật giàu cảm hứng của văn học Việt Nam. Từ những trang địa chí và những bài thơ mang cảm hứng non sông của thời trung đại đến những áng tùy bút tài hoa, những bài thơ và bút ký của văn học hiện đại, Hạ Long luôn hiện lên với nhiều tầng ý nghĩa, là biểu tượng của vẻ đẹp đất nước, của sức mạnh thiên nhiên, của bản sắc văn hóa biển và của khát vọng gìn giữ di sản cho muôn đời sau. Mặc dù tên gọi "Hạ Long" chỉ xuất hiện phổ biến từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, nhưng vùng biển Đông Bắc đã hiện diện từ rất sớm trong tư duy địa lý và văn học Việt Nam.

Vẻ đẹp vịnh Hạ Long đã đi vào thơ ca dân tộc

Hoàng đế Trần Thánh Tông (1240-1290) – nhà thơ, vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà thông thái kiệt xuất của nước Đại Việt thế kỷ XIII, trong một đêm trăng sáng trên vịnh Hạ Long mà thốt lên rằng 

“Hốt nhiên giai đắc thú

 Vạn tượng sinh hào đoan”

 (Bỗng nhiên được thú lạ

 Ngọn bút nảy muôn hình).

(“Hạnh An Bang phủ” – Trần Thánh Tông

Phan Võ dịch)

Trong tập thơ chữ Hán “Ức Trai thi tập” của Nguyễn Trãi (1380–1442)  – vị quân sư đại tài với tâm hồn lộng gió –  vào thế kỉ XV đã đứng trước biển Đông mà ứng tác bài thơ “Vân Đồn”

Lộ nhập Vân Đồn san phục san

Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan

“Đường đến Vân Đồn lắm núi sao

Kỳ quan đất dựng giữa trời cao” 

(Đào Duy Anh dịch)

Nguyễn Trãi nhìn những đảo đá không phải là vật vô tri, mà là sự sắp đặt của "tạo hóa" dành riêng cho mảnh đất này. Ông dùng từ "kỳ quan" như một sự khẳng định đanh thép về vẻ đẹp vượt tầm nhân thế, thể hiện được cái tĩnh lặng của biển cả hòa cùng cái chí khí ngất trời của một bậc khai quốc công thần, Hạ Long trong mắt Ức Trai là sự hùng vĩ đầy tôn nghiêm. Những trang địa chí và thơ văn của ông thể hiện một tư tưởng xuyên suốt: thiên nhiên là bộ phận không thể tách rời của quốc gia Đại Việt. Đối với Nguyễn Trãi, núi sông không chỉ là cảnh đẹp mà còn là biểu tượng của chủ quyền, của lịch sử và của bản sắc dân tộc.

Đến thời Lê Thánh Tông (1442-1497), các chuyến tuần du vùng Đông Bắc cùng hoạt động sáng tác của Tao đàn Nhị thập bát tú đã góp phần khẳng định vị trí của biển đảo trong không gian văn hóa Đại Việt, tinh thần ngợi ca non nước và lòng tự hào trước cảnh sắc đất nước đã tạo nên mạch nguồn thẩm mỹ để các thế hệ sau tiếp tục khai mở. 

“Cự tẩm uông dương triều bách xuyên

Loạn sơn kỳ bố tích liên thiên”

“ Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy

Núi bày cờ thế biếc liền mây”

(“Ngự chế Thiên Nam Động Chủ đề” –Lê Thánh Tông

Trần Nhuận Minh dịch)

An Đô Vương Trịnh Cương (1686 – 1730) bỗng thành thi sĩ khi đến với Hạ Long mà khắc bài thơ “Họa ” vào vách đá 

Minh hạnh vô nhai hối tổng xuyên

Sơn liên trám thủy, thủy man thiên

Thần kỳ mạc trạng an bài chưởng

Hàm nhuận nan danh hóa dục quyền

(Mênh mông sông tụ, triều lên

Núi in bóng nước, nước in bóng trời

Bàn tay tạo hóa tuyệt vời

Thần kỳ nhuần thấm lòng người bấy nay)

(Trần Nhuận Minh dịch)

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, qua bài "Độ Hoa Phong" (Qua núi Hoa Phong - tên gọi cũ của vùng Hạ Long) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822), Hạ Long không chỉ là cảnh đẹp, mà là một sự giao thoa giữa tiên và trần. Bà say sưa với cảnh tượng: 

Ngọc động vân phòng tam bách lục

Bất tri thùy mị Thủy tinh cung” 

(Băm sáu phòng mây cùng động ngọc

Đâu nào là cái Thủy tinh cung?)

(Hoàng Xuân Hãn dịch)

Ở thế kỷ XIX, nhiều danh sĩ như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh… trong hành trình qua vùng biển Đông Bắc đã để lại những bài thơ vịnh cảnh, miêu tả biển trời, đảo đá và vẻ hùng vĩ của thiên nhiên. Những sáng tác ấy phản ánh một quan niệm phổ biến của văn học trung đại: thiên nhiên là nơi con người tìm đến để suy ngẫm về thời cuộc, nhân sinh và đạo lý.

Hóa ra, để tạo ra kỳ quan số một này, thiên nhiên chỉ dùng có hai mẫu tự,hai chữ cái: Đá và nước.” – Tô Hoài (Ảnh sưu tầm)

 

Bước sang văn học hiện đại, vịnh Hạ Long tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng của nhiều cây bút lớn. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng thốt lên: “Một cảnh hay nhiều cảnh, cảnh trần hay cảnh nào?” một cách diễn đạt thể hiện sự kinh ngạc trước vẻ đẹp vượt ngoài những chuẩn mực thông thường. Nguyên Ngọc lại nhìn Hạ Long như một kiệt tác của tạo hóa khi cho rằng “Hóa ra, để tạo ra kỳ quan số một này, thiên nhiên chỉ dùng có hai mẫu tự, hai chữ cái: Đá và nước. Như để dạy cho đời, cho những nghệ sĩ một bài học tiết kiệm mẫu mực. Chỉ có hai yếu tố trong  bao yếu tố giàu có của đất trời. Chỉ có hai chất liệu trong vô vàn chất liệu có thể có, để viết, để vẽ, để điêu khắc, để sáng tạo nên tất cả”. Còn trong cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Tuân, Hạ Long là không gian của vẻ đẹp bất tận, “chỉ có núi mới chịu già  chứ biển và sóng biển Hạ Long thì trẻ trung đời đời” Qua mỗi góc nhìn, kỳ quan không chỉ hiện lên với dáng vẻ hùng vĩ mà còn trở thành biểu tượng của sức sáng tạo vô tận của thiên nhiên và chiều sâu văn hóa của đất nước. Nhà văn Tô Hoài từng viết “Một ánh trăng. Một mỏm đá. Một cánh buồm. Thuyền đi trên Hạ Long một ngày hay một tháng, hay bốn mùa, lúc nào cũng được thấy Hạ Long tuyệt vời thơ mộng và Hạ Long rực rỡ lịch sử”. Với mỗi tác giả, kỳ quan hiện lên vừa hùng vĩ, vừa gần gũi với đời sống con người vùng biển.

Nếu văn xuôi giúp người đọc hiểu về Hạ Long bằng tri thức, thì thơ ca lại mở ra không gian của cảm xúc. Nhà thơ Huy Cận, người gắn bó với hình tượng biển trong nhiều sáng tác, nhìn biển như không gian của sự sống và sức lao động. Năm 1958–1959, Huy Cận đi thực tế tại vùng mỏ Quảng Ninh, chính từ chuyến đi này, ông không chỉ ngắm cảnh vịnh Hạ Long mà còn sống cùng ngư dân và chứng kiến nhịp sống lao động của vùng biển này., ông viết “Mưa xuân trên biển”, một trong những bài thơ tiêu biểu về Hạ Long – Hồng Gai. 

Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm

 Biển bằng không có dòng xuôi ngược”

Đối với Xuân Diệu, biển là biểu tượng của tình yêu cuộc sống. Những trang thơ giàu nhạc điệu và cảm xúc của ông đã truyền cảm hứng để nhiều thế hệ độc giả cảm nhận vẻ đẹp của biển Việt Nam bằng một tâm hồn trẻ trung, say mê. “Ta chào ngươi, Hạ Long nghìn vạn đảo,… Ta ngả chào vừng non nước Hạ Long” (“Chào Hạ Long”- tháng 6/1959)

Đặc biệt, trong dòng chảy văn học Quảng Ninh, Trần Nhuận Minh là một trong những tác giả dành nhiều tình cảm cho Hạ Long. Các sáng tác của ông không chỉ ngợi ca cảnh sắc thiên nhiên mà còn khắc họa đời sống người dân vùng biển, người thợ mỏ, những làng chài và sự chuyển mình của vùng di sản. Ở đó, Hạ Long không chỉ đẹp bởi núi đá và sóng nước mà còn đẹp bởi những con người đang ngày đêm gìn giữ, bảo vệ và làm giàu cho vùng đất này. Những quả núi đá xanh của trời/ Nhúng xuống lưng chừng nước”. Nhiều nhà thơ đương đại khác của Quảng Ninh cũng tiếp tục viết về Hạ Long như một biểu tượng của bản sắc địa phương, của sự giao hòa giữa thiên nhiên và văn hóa, giữa truyền thống và hiện đại.

Nếu địa chất tạo nên Hạ Long bằng hàng triệu năm vận động của Trái Đất, thì văn học đã góp phần tạo nên "đời sống tinh thần" của di sản. Qua từng trang thơ, áng văn, Hạ Long không còn là những khối đá vô tri mà trở thành những hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Những câu chuyện về truyền thuyết Rồng Mẹ hạ trần giúp dân đánh giặc, về làng chài lênh đênh giữa sóng nước, về ánh bình minh trên vịnh hay những đêm trăng phản chiếu trong hang động đã bồi đắp thêm chiều sâu văn hóa cho kỳ quan thiên nhiên. Chính văn học đã giúp du khách đến Hạ Long không chỉ để ngắm nhìn mà còn để cảm nhận. Một chuyến tham quan trở thành hành trình khám phá lịch sử, văn hóa và tâm hồn của vùng đất di sản.

Ngày nay, du khách có thể trải nghiệm một hành trình mang đậm dấu ấn văn hóa,  những hải trình đưa du khách đến động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Luồn, đảo Ti Tốp, hang Sửng Sốt…những địa danh đã nhiều lần xuất hiện trong các tác phẩm văn học, hội họa và nhiếp ảnh. Khi hoàng hôn buông xuống trên mặt vịnh, ngồi trên boong tàu giữa hàng nghìn đảo đá, du khách sẽ dễ dàng cảm nhận vì sao biết bao văn nhân đã dành trọn cảm xúc cho nơi đây. Nếu còn thời gian, hãy nối dài hành trình đến làng chài Vung Viêng, núi Bài Thơ, Vườn quốc gia Bái Tử Long, hay Yên Tử... Đây là những không gian giúp kết nối vẻ đẹp thiên nhiên với chiều sâu văn hóa, lịch sử và văn học của Quảng Ninh.

Suốt nhiều thế kỷ, từ cảm hứng về non nước Đại Việt trong văn học trung đại đến những áng thơ, tùy bút và ký sự của văn học hiện đại, Hạ Long luôn hiện diện như một biểu tượng của vẻ đẹp Việt Nam. Mỗi thời đại có một cách cảm nhận khác nhau, nhưng tất cả đều gặp nhau ở sự ngưỡng mộ trước kỳ quan thiên nhiên và tình yêu dành cho quê hương, đất nước. Ngày nay, khi Hạ Long đã trở thành điểm đến của hàng triệu du khách trong và ngoài nước, những trang thơ văn ấy vẫn giữ nguyên giá trị. Chúng không chỉ lưu giữ ký ức về một vùng di sản, mà còn khơi dậy ý thức bảo tồn, truyền cảm hứng khám phá và góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Ninh – vùng đất hội tụ giữa thiên nhiên kỳ vĩ, lịch sử lâu đời và nền văn hóa giàu bản sắc. Có lẽ, đó cũng chính là sức sống bền bỉ của văn học: biến một cảnh quan thiên nhiên thành một phần ký ức của dân tộc, để mỗi người khi rời Hạ Long đều mang theo trong lòng một "áng văn chương" của riêng mình về kỳ quan giữa biển trời Đông Bắc.

(Tài liệu tham khảo Cuốn “Hạ Long – Những lời đánh giá và ngợi ca”- Tháng 5/2005

Hà Linh