Món quà của rừng ngập mặn trong ký ức vạn chài Hạ Long.

Có những món ăn được làm nên từ những sản vật quý của biển cả. Cũng có những món ăn bắt đầu từ một loại quả mọc lặng lẽ nơi bãi bùn, giữa những cánh rừng ngập mặn ven vịnh Hạ Long. Đó là quả mắm - thứ quả dân dã đã gắn bó với bữa cơm của nhiều thế hệ cư dân vạn chài và trở thành một phần ký ức về cuộc sống mộc mạc, chan hòa với thiên nhiên của họ.

Quả mắm, cây mắm xuất hiện rất nhiều ở khu vực rừng ngập mặn trên vịnh Hạ Long (ảnh sưu tầm).

Cây mắm là một trong những loài cây đặc trưng của hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Quảng Ninh, cùng với cây sú, cây vẹt tạo nên những thảm xanh trên các bãi triều. Loài cây này thường mọc ở những bãi bùn dày, chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống mỗi ngày và có sức sống bền bỉ. Khi còn nhỏ, cây thường mọc thành bụi, lớn lên phát triển thành cây độc lập. Cây mắm nhân giống bằng quả, quả chín rụng xuống bãi bùn rồi tiếp tục nảy mầm thành cây mới hoặc theo dòng nước biển trôi đến những bãi triều thích hợp để bén rễ, sinh trưởng. Cùng với các loài thực vật ngập mặn khác, cây mắm góp phần giữ đất, hạn chế xói lở bờ biển, tạo môi trường sinh sống cho nhiều loài thủy sinh và mang đến cho cư dân ven vịnh nhiều sản vật quý giá.

Mỗi năm, vào khoảng tháng 7 đến tháng 8 âm lịch, khi cây mắm vào mùa, người dân lại tranh thủ những lúc đi cào ngao, đánh hà, kéo lưới hay làm các công việc thường nhật để hái quả mắm mang về. Với cư dân vạn chài Hạ Long, quả mắm không chỉ là một sản vật quen thuộc của rừng ngập mặn mà còn là món quà thiên nhiên ban tặng. Bằng sự khéo léo trong lao động, người dân đã biến những quả mắm tưởng chừng chỉ mọc hoang nơi bãi triều thành nguyên liệu của nhiều món ăn dân dã, góp mặt trong những bữa cơm của cư dân vạn chài Hạ Long xưa.

Quả mắm được người dân thu hoạch mang về (ảnh sưu tầm).

Giữa những cánh rừng ngập mặn ấy, mỗi mùa cây mắm lại kết những chùm quả. Quả mắm có hình bầu dục, vỏ xanh, nhiều nhựa, vị chát và đắng nên thoạt nhìn ít ai nghĩ có thể trở thành món ăn. Thế nhưng, bằng kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, người dân đã biết cách chế biến để biến loại quả mọc hoang ấy thành một món ăn mang hương vị rất riêng.

Những người từng gắn bó với cuộc sống vạn chài vẫn kể rằng, ngày trước, khi cuộc sống còn nhiều khó khăn, quả mắm là một món ăn dân dã góp mặt trong nhiều bữa cơm của các gia đình. Không chỉ quả, lá cây mắm còn được tận dụng để lót hố trồng khoai, giúp khoai sinh trưởng tốt hơn. Từ những gì thiên nhiên sẵn có, người dân đã chắt chiu, sáng tạo nên những món ăn phù hợp với điều kiện sống của mình. Đó không chỉ là cách tận dụng sản vật mà còn là tri thức dân gian được đúc kết từ quá trình gắn bó lâu dài với vùng biển và rừng ngập mặn.

Để có món mắm xào ngon miệng, chế biến quả mắm cần nhiều thời gian (ảnh sưu tầm).

Điều làm nên nét đặc biệt của món ăn từ quả mắm không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn ở sự tỉ mỉ trong cách chế biến. Để có được món ăn ngon, quả mắm sau khi hái về được dùng dao bổ đôi, bỏ hạt, rửa sạch rồi cho vào nồi luộc hai đến ba lần để giảm bớt vị đắng, vị chát trước khi đem chế biến. Có nơi người dân còn luộc quả với nước vo gạo hoặc tro bếp để quả nhanh hết vị đắng. Chính sự công phu ấy đã biến một loại quả mọc hoang nơi rừng ngập mặn thành nguyên liệu của nhiều món ăn mang hương vị rất riêng.

Từ quả mắm, người dân sáng tạo nên nhiều món ăn, trong đó mắm xào cùng các loại hải sản như tôm, hà, ngao, ngán, điềm điệp... là món ăn tiêu biểu, để lại nhiều thương nhớ đối với những người từng gắn bó với cuộc sống vạn chài.

Món mắm xào hà (ảnh sưu tầm).
Món Mắm xào tôm (ảnh sưu tầm).

Mỗi gia đình có thể có một cách nêm nếm riêng nhưng cách chế biến truyền thống vẫn được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Với món mắm xào hà, người dân sẽ xào hà trước để giữ được vị ngọt tự nhiên rồi mới cho quả mắm đã sơ chế vào đảo đều. Khi quả mắm vừa ngấm vị ngọt từ hà, người nấu thêm lạc sống giã vỡ để tạo vị bùi, sau cùng mới cho một chút mắm tép để món ăn thêm đậm đà. Chỉ với những nguyên liệu giản dị ấy đã tạo nên một hương vị rất riêng: vị ngọt của hải sản hòa quyện với vị bùi của quả mắm và lạc, điểm thêm chút thơm nồng của mắm tép, tạo nên một món ăn lạ miệng nhưng khó quên.

Điều đặc biệt là hầu hết những nguyên liệu làm nên món mắm xào đều là sản vật của biển như tôm, hà, ngao, ngán hay mắm tép. Chỉ riêng lạc giã vỡ được mang từ đất liền ra, góp phần tạo nên hương vị hài hòa, đậm đà cho món ăn. Sự kết hợp giản dị ấy thể hiện sự khéo léo của cư dân vạn chài trong việc tận dụng những sản vật sẵn có của biển để tạo nên một món ăn mang đậm dấu ấn riêng của vùng biển Hạ Long.

Theo thời gian, cuộc sống đổi thay, món ăn từ quả mắm vẫn theo cư dân vạn chài về các khu tái định cư và tiếp tục hiện diện trong mâm cơm gia đình mỗi độ mùa mắm về. Dù cách chế biến có đôi chút thay đổi để phù hợp với cuộc sống hôm nay nhưng hương vị truyền thống vẫn được gìn giữ.

Món ăn từ quả mắm vì thế không chỉ đơn thuần là một món ăn dân dã mà còn là câu chuyện về sự thích nghi và sáng tạo của cư dân vạn chài. Đó cũng là minh chứng cho vốn tri thức dân gian được hình thành từ quá trình lao động, gắn bó lâu dài với biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven vịnh Hạ Long.

Hôm nay, mỗi mùa quả mắm trở lại không chỉ gợi nhớ một hương vị dân dã mà còn nhắc nhớ về những giá trị văn hóa được hình thành từ chính thiên nhiên của vùng vịnh Hạ Long. Món ăn từ quả mắm cũng phản ánh sự cần cù, sáng tạo và khả năng thích ứng của cư dân vạn chài trước điều kiện sống nơi biển đảo. Cùng với thời gian, món ăn ấy vẫn tiếp tục được lưu giữ như một phần ký ức đẹp của cộng đồng vạn chài vùng vịnh, góp thêm một nét riêng cho văn hóa ẩm thực Hạ Long. Qua đó, mỗi người hiểu hơn, trân trọng hơn những giá trị văn hóa được bồi đắp từ sự gắn kết hài hòa giữa con người với thiên nhiên, nền tảng quan trọng làm nên sức sống bền vững của di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Nguyễn Hằng Nga