Phát triển kinh tế xanh gắn với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, logistic biển và các ngành kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh(Phần 1)
NCS.ThS Phạm Đình Huỳnh,
Phó Trưởng Ban quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long – Yên Tử
Tóm tắt:
Thế kỷ 21 được thế giới xem là “Thế kỷ của đại dương”. Các quốc gia có biển đều quan tâm đến biển, coi trọng việc phát triển kinh tế biển. Khu vực Biển Đông, trong đó có vùng biển Quảng Ninh giữ vị trí địa kinh tế, địa chính trị rất quan trọng. Với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, vùng biển Quảng Ninh đang trở thành động lực phát triển cho các vùng, địa phương lân cận. Đảng và Nhà nước đã có những nghị quyết, chính sách liên quan đến phát triển bền vững kinh tế biển khu vực Quảng Ninh. Đây là những cơ sở quan trọng để phát triển tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế và cùng với thành phố Hải Phòng là động lực phát triển của vùng đồng bằng Sông Hồng.
Từ khóa: Kinh tế biển, kinh tế xanh, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển bền vững, di sản thế giới, Quảng Ninh.
Abstract:
The 21st century, recognized by many countries and international organizations as the "Century of the Ocean," has highlighted the importance of the Ocean and islands to coastal nations and the world as a whole. The East Sea region, including Quang Ninh province, holds a very important geoeconomic and geopolitical position. With its rich and diverse resources, Quang Ninh is becoming a driving force for development in neighboring regions and localities. The Party and State of Vietnam have issued resolutions and policies related to the sustainable development of the marine economy in the Quang Ninh region. These are important foundations for developing Quang Ninh province into a modern, internationally-oriented marine economic center, and together with Hai Phong city, a driving force for the development of the Red River Delta region.
Keywords: Marine economy, logistics, aqua-culture, sustainable development, world heritage.
1. Đặt vấn đề:
Vùng biển Quảng Ninh được xem là vùng biển tiêu biểu, đại diện về tài nguyên vị thế, điều kiện tự nhiên đa dạng của vùng biển vịnh Bắc Bộ đã tạo điều kiện cho khu vực sự đa dạng về nguồn gen quý hiếm, các hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới trên núi đồi ven biển, hệ sinh thái vùng triều - cửa sông, hệ sinh thái thảm cỏ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô. Vùng biển Quảng Ninh là nơi có số lượng đảo chiếm hơn 80% số đảo trong các vùng biển nước ta, trong đó Vân Đồn có diện tích lớn đứng thứ 2 của cả nước. Các đảo Cô Tô - Thanh Lân - Vĩnh Thực có nhiều tiềm năng không chỉ cho phát triển kinh tế biển, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh. Địa hình vịnh kín, nhưng giữa các đảo có những khu, luồng nước đủ rộng và đủ sâu cho các tàu công suất lớn đến các cảng biển ở Quảng Ninh. Nhận thấy vị trí, vai trò và tầm quan trọng của khu vực đông bắc Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và dành nguồn lực đầu tư lớn cho địa phương, Tỉnh cũng đã và đang dành nhiều nguồn lực đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng ven biển đồng bộ, hiện đại, tăng cường khả năng kết nối, tạo sức lan tỏa với các địa phương lân cận, phát huy tốt vai trò của các hành lang, vành đai kinh tế. Trong giai đoạn nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn do tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, Quảng Ninh vẫn là một trong những điểm sáng của cả nước khi đạt mức tăng trưởng kinh tế trên dưới 10% năm giai đoạn 2020-2022. Là địa phương ven biển tiêu biểu trong đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ninh ưu tiên thực hiện các đột phá chiến lược và mang lại những kết quả đáng ghi nhận ở nhiều lĩnh vực, đây chính là những cơ sở thuận lợi để Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế biển có tầm vóc quốc tế, có khả năng phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển, bao gồm cảng biển, du lịch biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, công nghiệp ven biển, khoa học - công nghệ biển, năng lượng biển, xây dựng công trình biển, kinh tế đảo.
Ngày 11/02/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2023, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đặt ra yêu cầu về phát triển kinh tế biển: (1) Xây dựng, phát triển Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế biển bền vững của cả nước trên cơ sở phát triển du lịch - dịch vụ kết nối khu vực và quốc tế; đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển nước sâu, các âu tàu du lịch đẳng cấp quốc tế gắn với phát triển kinh tế chuỗi khu kinh tế, khu đô thị biển - ven biển cận kề và là một trong những trung tâm logistics trọng điểm của cả nước; tăng khả năng liên kết không gian kinh tế ven bờ, biển và đảo; (2)Phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển và trên biển (nuôi biển) công nghệ cao, hiệu quả và bền vững; ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch; (3) Tổ chức lại không gian phát triển kinh tế biển trên cơ sở phân vùng không gian dựa vào hệ sinh thái và theo chức năng sử dụng biển, đảo và vùng ven biển. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo.
Xây dựng một trung tâm kinh tế biển hiện đại đòi hỏi một cách tiếp cận chiến lược và sự phối hợp nỗ lực của nhiều bên. Đứng trước bối cảnh mới, kinh tế biển Quảng Ninh cần phải có vị thế mới, phải hình thành một sức mạnh tổng hợp, là mũi đột phá hướng ra biển, là đầu tàu lôi kéo, có sự lan tỏa mạnh mẽ về phát triển kinh tế cho toàn vùng đồng bằng Sông Hồng. Quảng Ninh có nhiều ưu thế, tuy nhiên phát triển kinh tế biển ở khu vực vẫn chưa tương xứng tiềm năng và còn nhiều “dư địa”. Có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là từ chủ quan, như: thiếu định hướng tổng thể phát triển kinh tế biển theo kinh nghiệm quốc tế cũng như thiếu các cơ chế, chính sách mới, vượt trội, có tính cạnh tranh cao để khai thác bền vững, hiệu quả tiềm năng thế mạnh sẵn có và sắp có của vùng biển này.
2. Nhận diện mô hình phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh từ kinh nghiệm quốc tế và trong nước
2.1. Định nghĩa kinh tế biển:
Có nhiều định nghĩa đã được đưa ra trên thế giới về kinh tế biển và sự khác biệt phụ thuộc vào mục đích của nghiên cứu như dùng để đo lường, phát triển, quản lý hay bảo tồn tài nguyên biển… Về cơ bản, kinh tế biển có thể được định nghĩa là tổng thể các hoạt động liên quan đến biển hay các điều kiện phát triển của chúng phụ thuộc vào biển (Kalaydjian, 2014). Theo Ủy ban Châu Âu (EC), “Kinh tế biển bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế ngành và liên ngành liên quan đến đại dương, biển và bờ biển. Điều này bao gồm các hoạt động hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp gần nhất cần thiết cho hoạt động của các ngành kinh tế này, có thể được đặt ở bất cứ đâu, kể cả ở các quốc gia không giáp biển.”. Tổ chức OECD (2016) định nghĩa “Kinh tế đại dương là tổng các hoạt động kinh tế của các ngành công nghiệp dựa trên đại dương, cùng với tài sản, hàng hóa và dịch vụ do các hệ sinh thái biển cung cấp và thừa nhận sự phụ thuộc lẫn nhau của hai trụ cột đó”; New Zealand định nghĩa kinh tế biển là các hoạt động kinh tế diễn ra hoặc sử dụng môi trường biển, hoặc sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho các hoạt động đó hoặc đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế quốc gia. Trung Quốc định nghĩa kinh tế biển là tổng thể của tất cả các loại hoạt động liên quan đến phát triển, sử dụng và bảo vệ môi trường biển. Nhật Bản định nghĩa kinh tế biển là ngành chịu trách nhiệm độc quyền cho việc phát triển, sử dụng và bảo tồn đại dương. Hàn Quốc định nghĩa kinh tế biển là hoạt động kinh tế diễn ra trong đại dương, đưa hàng hóa và dịch vụ vào hoạt động đại dương và hoạt động sử dụng tài nguyên đại dương làm đầu vào. Dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng đặc điểm của các định nghĩa về kinh tế biển gồm 2 lĩnh vực chính: (i) các ngành kinh tế dựa trên biển, và (ii) hệ sinh thái biển; trong đó, các ngành kinh tế dựa trên biển bao gồm dòng chảy thị trường và dịch vụ, và trữ lượng vốn vật chất của các ngành kinh tế; các hệ sinh thái biển đại diện cho tài sản vốn tự nhiên và các dòng chảy và dịch vụ phi thị trường.

Ở Việt Nam, từ giữa thập niên 1990, trong Đề án: “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì (1995 - 1996) có định nghĩa: “Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển,... còn toàn bộ các hoạt động sản xuất và phục vụ khai thác biển lại nằm trên dải đất liền ven biển.” Như vậy có thể thấy khái niệm kinh tế biển của Việt Nam với các tổ chức nhìn chung đều có cùng nội hàm, đó là các hoạt động kinh tế với các ngành công nghiệp dựa trên việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên biển theo các cách thức khác nhau nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế và đời sống người dân. Điều thách thức đối với việc định nghĩa về kinh tế biển là bối cảnh của các nền kinh tế dựa vào biển đã có sự thay đổi sâu sắc trong nhiều thập niên qua; trọng tâm của các chiến lược kinh tế biển đã dịch chuyển từ các lĩnh vực truyền thống như vận tải, du lịch biển hay đánh bắt cá sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như nuôi trồng thủy sản ngoài khơi, dược lý biển, công nghệ sinh học biển, năng lượng tái tạo, tàu carbon thấp và công nghệ hàng hải, giám sát hàng hải, dịch vụ môi trường, dịch vụ nghiên cứu và phát triển biển. Sự chuyển dịch này xuất phát từ bối cảnh của các vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, cách mạng công nghệ, gia tăng dân số…
2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của quốc tế và trong nước
2.2.1. Mô hình kinh tế biển của Singapore:
Singapore là một quốc gia đảo nhỏ nằm ở Đông Nam Á, có diện tích 728,6km2. Vào những năm 1960, Singapore là một quốc gia chưa phát triển với GDP bình quân đầu người dưới 320 USD. Ngày nay, Singapore là một trong những nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2022 của người dân nước này đã tăng lên mức đáng kinh ngạc là hơn 82.800 USD. Những thành tựu của Singapore là kết quả của sự kết hợp giữa những chính sách có tầm nhìn, với lợi thế về vị trí địa lý cùng với sự tham gia sâu rộng của khu vực tư nhân trên một nền tảng thể chế tốt. Kinh nghiệm của Singapore trong phát triển kinh tế dựa vào lợi thế tài nguyên biển có thể cung cấp một số bài học có ý nghĩa tham khảo cho Quảng Ninh khi đang tìm kiếm một mô hình kinh tế biển phù hợp.
Singapore có đường bờ biển trải dài 197 km và lãnh hải lên tới 12 hải lý là 744 km2. Ngành hàng hải của quốc đảo này là một trong những trụ cột kinh tế quan trọng, đóng góp khoảng 7% vào GDP, tạo ra khoảng 170 nghìn việc làm mỗi năm. Hiện tại gần như tất cả các khu vực biển và ven biển đều được sử dụng cho mục đích thương mại và các mục đích phi công nghiệp khác như phát triển dân cư và hoạt động giải trí. Kế hoạch Xanh Singapore 2030 (SGP 2030) được công bố vào tháng 3 năm 2021 nhằm thúc đẩy chương trình nghị sự quốc gia về phát triển bền vững. Mặc dù SGP 2030 chủ yếu tập trung vào các khía cạnh xanh hoặc các giải pháp trên đất liền để ứng phó với biến đổi khí hậu, các kế hoạch khai thác tài nguyên biển và ven biển để bổ sung và tăng cường những nỗ lực hiện tại nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế lâu dài và bền vững cho Singapore cũng được tính đến. Các sáng kiến nền kinh tế xanh của Singapore tập trung nhiều vào việc giảm sử dụng năng lượng, chất thải và lượng khí thải carbon, các sáng kiến khác cũng được khám phá sâu hơn trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo đại dương, sản xuất lương thực bền vững ở môi trường ven biển và biển (CME), sản xuất nước thông qua khử muối biển và vận tải biển bền vững điện khí hóa tàu thuyền.
Singapore nhận diện nền kinh tế biển theo cách tiếp cận nền kinh tế đại dương bền vững, tức mô hình nền kinh tế xanh. Theo đó, các ngành được xác định là quan trọng đối với nền kinh tế xanh của Singapore là: Thủy sản và Nuôi trồng thủy sản, Cảng, Vận tải biển, Du lịch, Khu nghỉ dưỡng và Phát triển ven biển, Công nghệ biển và Dịch vụ Môi trường, Dầu khí, Sản xuất liên quan đến đại dương, Khai thác đáy biển, Năng lượng tái tạo, và Công nghệ sinh học biển. Chính phủ Singapore xác định việc đảm bảo sử dụng hiệu quả không gian và tài nguyên biển là rất quan trọng. Để cải thiện an ninh lương thực, Cơ quan Thực phẩm Singapore (SAF) đã đặt mục tiêu sản xuất 30% nhu cầu dinh dưỡng của Singapore vào năm 2030, bao gồm thúc đẩy sản xuất nuôi trồng thủy sản địa phương như một nguồn cung cấp protein bền vững. Hiện tại, 10% lượng tiêu thụ cá của Singapore đến từ các trang trại nuôi cá thực phẩm địa phương, cả trên đất liền và trên biển. Khoảng 122 trang trại nuôi cá, trong đó có 110 trang trại ở vùng ven biển và phía Nam Singapore, sản xuất 4.700 tấn cá mỗi năm. Là một quốc gia có nguồn nước hạn chế, Singapore phải đối mặt với thách thức đảm bảo nguồn cung cấp nước ổn định và giá cả phải chăng, đồng thời sử dụng nhiều giải pháp dựa trên nhiều nguồn nước khác nhau để đảm bảo khả năng cung cấp nước uống chất lượng cao thông qua việc thành lập các nhà máy khử muối, xử lý nước thải và cải tạo nước. Nhiều nhu cầu về việc sử dụng các khu vực biển và ven biển hạn chế ở Singapore đã dẫn đến việc thiết lập nhiều dự án, chính sách và cơ chế quản lý khác nhau. Chính phủ Singapore đã áp dụng và thực hiện khuôn khổ quản lý tổng hợp đô thị ven biển (IUCM) cho phép quản lý và điều tiết không gian biển, giảm mức sử dụng năng lượng, chất thải và lượng khí thải carbon. Khung này thúc đẩy cách tiếp cận toàn chính phủ để đảm bảo việc bảo vệ và bảo tồn các khu vực biển và ven biển; Triển khai thí điểm cảng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) để khuyến khích sử dụng nhiên liệu thay thế trong lĩnh vực vận tải biển. Thế mạnh của Singapore trong lĩnh vực kỹ thuật hàng hải và ngoài khơi (M&OE) đã vượt ra ngoài các lĩnh vực truyền thống như vận tải biển, vận tải và quản lý ven biển. Với thế mạnh đó, Singapore hiện đang tìm cách đi tiên phong trong các lĩnh vực mới nổi như năng lượng tái tạo biển (MRE) và chủ động thiết lập một mạng lưới năng lượng tái tạo trong khu vực, trong đó có các đối tác từ Việt Nam. Những dự án hợp tác xuyên biên giới sẽ cho phép nền kinh tế xanh của Singapore mở rộng ra ngoài lãnh hải của mình. Bên cạnh việc triển khai các công nghệ ở khu vực ven biển, các giải pháp dựa vào thiên nhiên cũng được khám phá như một phần của chiến lược khử carbon của Chính phủ Singapore. Về mặt an ninh lương thực, việc sử dụng không gian biển hiệu quả là rất quan trọng để phục vụ cho tăng trưởng nhu cầu lương thực trong nước. Trong lĩnh vực du lịch hàng hải bền vững, Singapore có chính sách khuyến khích thay thế động cơ chạy bằng diesel bằng thế hệ động cơ điện mới. Những tiến bộ trong công nghệ và quy trình từ các lĩnh vực hàng hải và liên quan đến hàng hải đã mang lại cơ hội đáng kể cho Singapore trong việc thúc đẩy cách tiếp cận tích hợp trong việc phát triển nền kinh tế biển xanh. Các khuôn khổ chính sách và quy định mới được Chính phủ nước này cải tiến nhằm khuyến khích các giải pháp hiệu quả, sáng tạo và phù hợp với tương lai, giúp khai thác không gian biển một cách bền vững. Mặc dù Singapore có không gian biển hạn chế và phải phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau nhưng nhờ biết sử dụng các kiến thức và chuyên môn sẵn có trong lĩnh vực M&OE để phát triển mô hình nền kinh tế biển xanh với trọng tâm trước mắt là năng lượng tái tạo biển. Singapore đặt mục tiêu đi đầu trong khu vực nhằm chiếm lĩnh chuỗi cung ứng nền kinh tế xanh chuyên biệt ở Đông Nam Á hiện đang còn thiếu. Với nguồn lực và kỹ năng cần thiết đã có sẵn ở Singapore, nước này chỉ cần đào tạo lại hoặc chuyển đổi kỹ năng ở mức tối thiểu. Sáng kiến SGP 2030 kỳ vọng có thể tạo ra hàng chục nghìn việc làm mới và góp phần hướng tới sự phục hồi kinh tế xanh sau đại dịch.
2.3. Kinh tế biển - Động cơ đẩy của thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố biển, có vị trí quan trọng của Miền Trung Việt Nam. Trong chiến lược phát triển kinh tế biển, Đà Nẵng có ba thế mạnh: (1) Về hàng hải: với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thuận lợi để xây dựng cảng biển, nhất là trong vùng vịnh Đà Nẵng, ngành vận tải biển không ngừng được hoàn thiện và phát triển. Một trong những mục tiêu quan trọng của thành phố là xây dựng cảng Đà Nẵng trở thành một trong những cảng biển quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Nhu cầu trao đổi hàng hóa, nguyên nhiên liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một vùng rộng lớn tạo động lực lớn để cảng Đà Nẵng không ngừng phát triển. Hiện cảng Đà Nẵng có 3 khu bến (Tiên Sa, Sông Hàn, Liên Chiểu). Đà Nẵng đang triển khai nâng cấp khu bến Tiên Sa giai đoạn 2 và xây dựng mới cảng Liên Chiểu với số vốn gần 5.000 tỷ đồng, công suất dự kiến 8,5 triệu tấn/năm. “Cảng Đà Nẵng có thể thiết lập các tuyến hàng hải đến các vùng trong nước, trong khu vực và thế giới một cách thuận lợi. (2) Về khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản: phát triển mạnh ngành hải sản là một hướng phát triển của kinh tế biển thành phố nhằm góp phần cải thiện đời sống, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, chủ quyền vùng biển. Bờ biển dài, ngư trường đánh bắt rộng, các loại hải sản phong phú… là điều kiện tốt cho hoạt động khai thác hải sản. Trong những năm qua, do được đầu tư về phương tiện đánh bắt hiện đại, sản lượng khai thác liên tục tăng, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thành phố và cả nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Đà Nẵng còn có điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nhất là những loại có giá trị kinh tế cao. Hiện thành phố đã thành lập các trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống cung cấp cho các cơ sở nuôi trồng trên địa bàn thành phố. Sản lượng trong những năm qua không ngừng tăng, đạt gần 2.000 tấn các loại. Thành phố có kế hoạch đầu tư 15 - 20 cơ sở chế biến có dây chuyền công nghệ hiện đại nhằm tạo ra nhiều sản phẩm thủy sản có chất lượng xuất khẩu quốc tế. Khối lượng sản phẩm thủy sản thành phố những năm gần đây luôn tăng, đóng góp đáng kể vào giá trị xuất khẩu của ngành và của thành phố. (3) Về du lịch biển: trong những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng đã có nhiều biện pháp huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ven biển, nhờ vậy ngành du lịch có mức tăng trưởng cao. Du lịch biển Đà Nẵng đã có gần như đầy đủ các loại hình du lịch biển - gắn với biển có tắm biển, nghỉ dưỡng, lặn biển, thể thao trên biển. Mặt khác, Đà Nẵng còn phát triển các dịch vụ du lịch chất lượng cao phục vụ mọi loại đối tượng, đó là các khu mua sắm, các resort cao cấp ven biển như Furama, Sandy Beach, Bãi Bụt, Biển Đông… Thị trường khách du lịch ngày càng mở rộng, lượng khách ngày một tăng. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng hoàn thiện, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, môi trường du lịch an toàn… là những lý do khiến khách du lịch đến Đà Nẵng nhiều hơn. Kinh tế biển đã tạo nên bệ đỡ đưa Đà Nẵng phát triển mạnh mẽ và kinh tế biển hứa hẹn sẽ tiếp tục đưa thành phố này vươn tầm quốc tế.
Kinh tế hàng hải của Đà Nẵng, mà trọng tâm là dịch vụ khai thác cảng biển, đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt kể từ khi cảng Đà Nẵng thay đổi mô hình hoạt động và chuyển hướng kinh doanh sang đẩy mạnh khai thác hàng hóa container. Tiên Sa đã trở thành cảng biển quan trọng của khu vực. Ngành khai thác và chế biến thủy hải sản cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Đà Nẵng. Song song với đó, việc phát huy tiềm năng, lợi thế biển trong phát triển du lịch và dịch vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch biển đã tạo sản phẩm du lịch biển có tính đặc thù cao và xây dựng được thương hiệu du lịch Đà Nẵng. Không những thế, Đà Nẵng đã hình thành một đô thị biển năng động và hiện đại, nơi “tìm đến” của nhà đầu tư bất động sản. Đà Nẵng đặt mục tiêu đóng góp của các ngành kinh tế thuần biển vào tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố đạt 10% vào năm 2025 và 15% vào năm 2030. Phát triển hài hoà các ngành kinh tế biển, từ du lịch và dịch vụ biển, đến phát triển kinh tế hàng hải với mục tiêu trở thành trung tâm cảng của miền Trung đạt đẳng cấp khu vực Đông Nam Á, phát triển năng lượng tái tạo và khai thác hải sản bền vững… Với vị trí trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng, thành phố Đà Nẵng được định hướng phát triển trở thành trung tâm kinh tế biển không chỉ ở Việt Nam mà còn mang tầm khu vực...Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đà Nẵng được xác định trở thành trung tâm nhiều ngành, lĩnh vực của Vùng, trong đó sẽ hình thành và phát triển các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá kết hợp với quốc phòng, an ninh; các trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu; hình thành một số trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; trung tâm văn hóa, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực văn hóa, nghệ thuật của vùng.
(Còn nữa)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tài liệu trong nước
1. Báo cáo của nhóm Sáng kiến Việt Nam (2021).
2. Bộ kế hoạch đầu tư (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020, Thủ Tướng Chính Phủ.
3. Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2017), Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
4. Dư Văn Toán (2009), Về một cách tiếp cận bảo vệ tài nguyên môi trường biển mới ở vùng biển Việt Nam: phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững, Hội thảo quốc gia Môi trường và PTBV trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội.
5. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2022 – 2023.
6. Nguyễn Chu Hồi (2007), Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo Quốc Gia.
7. Nghị quyết số 44/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng, đẩy mạnh xã hội hoá, chú trọng phát triển kinh tế biển;
8. Quốc Hội Việt Nam (2012), Luật số 18/2012/QH13 của Quốc hội : LUẬT BIỂN VIỆT NAM.
9. Trương Minh Dục (2016), Phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền vùng biển quốc gia, Tạp chí Kinh tế và quản lý, tháng 1/2016.