Cọ Hạ Long - loài cây mang tên vùng Di sản
Nhắc đến cây cọ, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến những đồi cọ xanh mướt của vùng trung du, miền núi phía Bắc. Đó là những tàu lá xòe rộng che mát con đường làng, là mái nhà lợp lá cọ, chiếc nón mẹ đội ra đồng, cây chổi dựng nơi góc sân hay quả cọ ỏm bùi bùi của những ngày đông. Từ bao đời nay, cây cọ đã gắn với làng quê, với đất đai màu mỡ và nhịp sống bình dị của con người.
Thế nhưng, giữa biển trời Hạ Long lại tồn tại một loài cọ rất khác. Nó không mọc thành rừng trên những triền đồi, mà bám rễ trên các đảo đá vôi giữa trùng khơi với những điều kiện sống khắc nghiệt. Và chính sự thích nghi diệu kì ấy đã tạo nên một loài cọ đặc hữu – cọ Hạ Long (Livistona halongensis), chỉ được ghi nhận trên các đảo đá vôi của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Phần lớn các loài cọ khác của Việt Nam đều sinh trưởng trên nền đất tương đối ổn định, nơi hệ rễ có điều kiện lan rộng để hấp thu nước và dinh dưỡng, giúp cây phát triển với thân khỏe và tán lá xòe rộng. Cọ Hạ Long lại trái ngược hoàn toàn. Sinh sống trong môi trường núi đá vôi và biển đảo biệt lập ngoài khơi xa, cọ Hạ Long phân bố ở nhiều dạng địa hình khác nhau từ khu vực chân núi, sườn núi, trong các thung lũng đất dày và trên các đỉnh núi cao. Giá trị của loài cây này không nằm ở độ phủ đại trà, mà nằm ở cơ chế biến đổi hình thái tinh tế để thích nghi với môi trường biển đảo khắc nghiệt.

Sinh sống trên những đảo núi không có lớp đất dày, nguồn dinh dưỡng nghèo nàn, nước mưa vừa rơi xuống đã thoát ngay vào các khe núi, cây quanh năm phải chịu tác động của gió mạnh và hơi muối từ biển. Để tồn tại, cọ Hạ Long phát triển một bộ rễ rất khỏe và cứng, luồn lách sâu vào từng khe nứt của đá vôi. Bộ rễ ấy vừa neo cây đứng vững trước những trận bão biển, vừa chắt chiu từng giọt nước ngọt và chút mùn ít ỏi đọng lại trên mặt đá. Chính sự thích nghi bền bỉ đó đã làm nên một loài cây chỉ có thể sống giữa biển trời Hạ Long.
Giữa trập trùng đảo núi của vịnh, từng cây cọ vươn cao vượt lên thảm thực vật xung quanh để đón ánh sáng. Đến mùa hoa, những cụm hoa lớn mọc vươn thẳng lên phía trên tán lá, mang sắc vàng dịu nổi bật giữa nền đá xám và màu xanh của biển trời. Từ xa, từng thân cây với tán lá quạt xòe rộng đứng nổi bật nơi vách đá hay đỉnh núi cheo leo, nhỏ bé mà kiêu hãnh điểm tô cho bức tranh thiên nhiên Hạ Long.

Cọ Hạ Long được TS Nguyễn Tiến Hiệp (Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật) và TS Ruth Kiew (Vườn Thực vật Singapore) phát hiện vào năm 1999 trong khuôn khổ dự án Nghiên cứu thực vật tự nhiên vịnh Hạ Long. Đây là chương trình hợp tác giữa Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Ban Quản lý vịnh Hạ Long (nay là Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử). Việc phát hiện loài cọ mới này không chỉ bổ sung thêm một loài cho chi Livistona, đồng thời làm phong phú thêm thành phần loài cọ của Việt Nam và thế giới.
Cọ Hạ Long có tên khoa học là Livistona halongensis. Phần định danh loài halongensis không chỉ là danh pháp khoa học, mà còn là một dấu ấn địa danh, ghi nhận Hạ Long là nơi loài được phát hiện lần đầu tiên. Đây cũng là cách đặt tên đã được các nhà thực vật học sử dụng từ rất sớm đối với nhiều loài đặc hữu của vùng Di sản.
Người ta biết đến Hạ Long bởi vì sự kỳ vĩ của đá và nước. Nhưng loài cọ nhỏ bé trên đỉnh núi lại mở ra một vẻ đẹp khác - vẻ đẹp của sự sống bền bỉ, của những loài cây thích nghi qua hàng triệu năm giữa nắng gió biển khơi. Một hòn đảo nhỏ bé trên vịnh có thể chưa từng có tên trên bản đồ, nhưng loài cọ mọc trên đó lại mang tên Hạ Long đến với sự quan tâm của giới thực vật học toàn cầu. Mỗi lần cái tên Livistona halongensis được viết ra hay xướng lên, Hạ Long không chỉ hiện lên như một điểm đến hấp dẫn, mà còn là vùng đất của nhiều loài đặc hữu không nơi nào khác trên thế giới có được.
Đào Thị Thúy