Ký ức vạn chài - Phần 10: Giá trị văn hóa của hát đám cưới trên thuyền của cư dân vạn chài Hạ Long

Giữa mênh mang sóng nước vịnh Hạ Long, nơi những con thuyền từng là mái nhà của bao thế hệ cư dân vạn chài, tiếng hát luôn hiện diện trong đời sống lao động và sinh hoạt. Trong kho tàng văn hóa dân gian ấy, hát đám cưới trên thuyền là một nét đẹp đặc sắc, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người dân biển. Không chỉ làm cho ngày cưới thêm vui, những câu hát còn gửi gắm tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa và khát vọng về cuộc sống hạnh phúc. Đến hôm nay, khi không gian làng chài xưa đã dần lùi vào ký ức, hát đám cưới trên thuyền vẫn là một di sản văn hóa cần được gìn giữ và phát huy.

Bù đa (ông bà mối) sang thuyền nhà gái đón dâu (ảnh: sưu tầm).

Theo cuốn “Di sản văn hóa làng chài vịnh Hạ Long” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh xuất bản năm 2010, hát đám cưới trên thuyền không chỉ là những lời ca chúc mừng ngày vui của đôi lứa mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Qua những canh hát giao duyên, người dân biển bộc lộ tình cảm, quan niệm về cuộc sống cũng như những chuẩn mực đạo đức được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Trước hết, hát đám cưới thể hiện tình yêu tha thiết đối với quê hương biển đảo. Trong những lần hát đối đáp, hình ảnh các cửa biển, hòn đảo, luồng lạch quen thuộc được nhắc đến như một niềm tự hào của cư dân vạn chài. Quê hương hiện lên không chỉ là nơi sinh sống mà còn là không gian văn hóa gắn bó với bao thế hệ ngư dân. Những câu hát vì thế góp phần lưu giữ ký ức về vùng biển Hạ Long và đời sống của một cộng đồng từng lấy biển làm nhà.

Hát đám cưới còn phản ánh sinh động cuộc sống lao động của cư dân vạn chài. Trong lời ca xuất hiện nghề đánh cá, chèo thuyền, đan lưới, con nước, mùa gió cùng nhiều hiểu biết về biển cả. Đó không chỉ là vốn sống của người đi biển mà còn là tri thức dân gian được tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, góp phần lưu giữ kinh nghiệm lao động của cộng đồng.

Trời trong sáng tỏ

Nước đục ngầu ngầu

Cha con bảo nhau

Chèo mau cập bến.

Một giá trị nổi bật khác của hát đám cưới là đề cao tình yêu chân thành và sự thủy chung. Những cuộc hát giao duyên không chỉ để thử tài ứng đối mà còn là dịp để trai gái bày tỏ tình cảm. Tình yêu được gửi gắm qua những lời ca mộc mạc nhưng tha thiết:

Tình ta thăm thẳm biển sâu

Đã yêu đến mấy cơ cầu cũng yêu.

Cho dù lái gãy buồm xiêu,

Tan thuyền nát ván cũng liều vì nhau.

Những câu hát ấy thể hiện quan niệm sống, nghĩa tình của cư dân vạn chài, nơi tình yêu luôn gắn với sự son sắt, sẻ chia và cùng nhau vượt qua sóng gió của cuộc sống lênh đênh trên biển.

Qua những câu hát cũng có thể thấy cư dân vạn chài có quan niệm khá cởi mở về tình yêu và hôn nhân. Nam nữ được tự do gặp gỡ, tìm hiểu qua những cuộc hát đối đáp, cùng xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tình cảm và sự đồng thuận. Đặc biệt, người con gái luôn được trân trọng, nâng niu chứ không bị xem như đối tượng của sự mua bán hôn nhân. Trong làn điệu Hát ngõ hoa, cô gái được ví như một bông hoa đẹp:

Đã thề thắm thiết với hoa

Bể sâu núi dựng với là trăng soi.

Yêu mình lắm lắm mình ơi,

Đôi ta ra lộng vào khơi chung tình.

Qua đó có thể thấy, dù sống giữa biển khơi và còn nhiều khó khăn, cư dân vạn chài vẫn có tư tưởng tiến bộ, đề cao tình yêu chân thành, sự bình đẳng giữa nam và nữ, không nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ hay những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến.

Bên cạnh giá trị nhân văn, hát đám cưới trên thuyền còn mang giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật đặc sắc. Ngôn ngữ trong lời hát giản dị, gần gũi với tiếng nói hằng ngày, nhiều từ ngữ mang đậm sắc thái địa phương nhưng giàu sức biểu cảm, dễ nhớ và dễ đi vào lòng người. Giai điệu của hát đám cưới gần gũi với hát Đúm, có tiết tấu chậm, âm vực không rộng nên hầu như ai cũng có thể hát. Tuy nhiên, sự mộc mạc ấy không đồng nghĩa với đơn điệu. Bằng cách nhấn, nhả câu hát đầy khéo léo, những người nghệ nhân dân gian đã tạo nên những giai điệu ngân nga, mềm mại, trữ tình và giàu sức cuốn hút.

Hát tiễn cô dâu (phần ngõ hoa) trong hát đám cưới của ngư dân vạn chài Hạ Long (ảnh: sưu tầm.)

Những hình ảnh quen thuộc như con thuyền, cánh buồm, sóng nước hay hòn đảo được đưa vào lời ca một cách tự nhiên, tạo nên vẻ đẹp vừa chân thực vừa giàu chất thơ:

Anh về xẻ ván còn lâu,

Anh đưa vạt áo bắc cầu em sang.

Không chỉ đẹp ở ngôn ngữ, hát đám cưới trên thuyền còn có kết cấu chặt chẽ. Lời ca được sắp xếp theo trình tự của ba lần ngõ gồm ngõ khách, ngõ cheo và ngõ hoa tạo nên mạch diễn xướng rõ ràng và hấp dẫn.

Ba ngõ cởi một còn hai,

Ngõ trong lát đá, ngõ ngoài cài then.

Hỏi rằng chàng lạ hay quen,

Thì chàng nói thật em đây cho vào.

Chàng mà trả giá làm cao,

Dừng chân đứng đó, hượm vào tới đây.

Phương pháp xây dựng hình tượng trong hát đám cưới cũng rất phong phú. Những hình ảnh ví von, ẩn dụ được sử dụng linh hoạt, vừa gần gũi với đời sống, vừa giàu tính biểu cảm. Phần lớn lời hát được sáng tác theo thể thơ lục bát, bên cạnh đó còn có thể bốn chữ, thất ngôn hoặc thơ tự do, tạo nên sự phong phú trong cách thể hiện.

Mời trầu trong hát đám cưới của ngư dân vạn chài trên vịnh Hạ Long (ảnh: sưu tầm).

Một nét đẹp khác của hát đám cưới là nghệ thuật giao tiếp thông qua miếng trầu – biểu tượng của sự chân tình và hiếu khách. Lời mời trầu mộc mạc nhưng chứa đựng sự trân trọng dành cho khách:

Trầu quế Hải Ninh, cau quế Hải Phòng,

Đã ăn thì chớ ngại ngùng xa xôi.

Ăn trầu thì nhớ đến vôi,

Lá vỏ anh hái, nước người đường xa.

Đặc biệt, hát đám cưới trên thuyền còn là loại hình diễn xướng dân gian giàu chất trí tuệ. Nhiều bài hát sử dụng điển tích hoặc vận dụng kiến thức văn học, đòi hỏi người hát phải có vốn hiểu biết và khả năng ứng đối nhanh nhạy. Chẳng hạn, trong câu đố về Truyện Kiều:

"Chuyện Kiều chàng thuộc làu chưa,

Đố chàng kể được một câu chín càng."

Lời giải tiếp nối bằng những câu thơ trong Truyện Kiều cho thấy sự am hiểu văn học của người hát, dù phần lớn họ không có điều kiện học hành đầy đủ. Điều đó phản ánh đời sống tinh thần phong phú và khả năng tiếp thu, sáng tạo văn hóa của cư dân vạn chài.

Ngày nay, cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, không gian diễn xướng của hát đám cưới trên thuyền không còn như trước. Nhiều nghệ nhân đã lớn tuổi, lớp trẻ ít có điều kiện tiếp cận với những làn điệu cổ. Vì vậy, việc sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy và giới thiệu loại hình diễn xướng này trong các hoạt động văn hóa là việc làm cần thiết để những giá trị tốt đẹp tiếp tục được gìn giữ.

Hát đám cưới trên thuyền không chỉ là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mà còn là ký ức về một cộng đồng từng gắn bó trọn đời với sóng nước Vịnh Hạ Long. Trong mỗi lời ca có tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tri thức dân gian và những giá trị đạo đức được vun đắp qua nhiều thế hệ. Gìn giữ những câu hát ấy cũng chính là gìn giữ một phần bản sắc văn hóa của cư dân vạn chài, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của vịnh Hạ Long hôm nay và mai sau.

(Bài viết có tham khảo thông tin của sách chuyên khảo “Di sản văn hóa làng chài Cửa Vạn vịnh Hạ Long”- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh xuất bản năm 2010). 

Nguyễn Nga