Ký ức Vạn chài trên vịnh Hạ Long

Phần 3: Dấu ấn tôn giáo tín ngưỡng và phong tục tập quán của cư dân vạn chài trên vịnh Hạ Long.

Giữa trùng khơi vịnh Hạ Long, các làng chài nổi như Cửa Vạn, Vung Viêng, Ba Hang, Cống Tàu… từng là nơi sinh sống của bao ngư dân lấy thuyền làm nhà, lấy sóng nước làm quê hương. Ngày nay, dù không còn hình thức cư trú truyền thống, kho tàng văn hóa dân gian phong phú của họ vẫn là một phần bản sắc không thể tách rời của Di sản thiên nhiên thế giới. Sống giữa mặt nước, mọi sinh hoạt từ lao động, phong tục đến hôn nhân của người vạn chài đều mang đậm dấu ấn biển cả – nơi vừa là nguồn sống, vừa là nơi ngự trị của các vị thần linh bảo hộ luôn được họ kính trọng qua các nghi lễ cầu an mỗi dịp ra khơi hay lễ Tết.

Biểu hiện rõ nét nhất cho dấu ấn tín ngưỡng và phong tục tập quán độc đáo của cư dân vạn chài Hạ Long chính là tục thờ cúng tổ tiên. Trên con thuyền chật hẹp, bàn thờ vẫn được bố trí ở nơi trang trọng. Nhiều gia đình có tới hàng chục bát hương do không biết chữ, các dòng họ không có gia phả nên mỗi bát hương biểu thị cho một người đã khuất theo truyền miệng, thường nhớ được 4 đến 5 đời. Một số gia đình có tục lệ thờ người đã khuất bằng hình thức tạc tượng, còn đối với các dòng họ lớn, miếu thờ riêng thường được đặt kín đáo trong các vạ núi. Việc thờ cúng này thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", cầu mong sự che chở và gắn kết dòng tộc bền chặt.

Đi lễ đền cậu Vàng tại làng chài Cửa Vạn xưa (Nguồn: BQLDSTG vịnh Hạ Long- Yên Tử).

Bên cạnh đó, người dân còn duy trì tục thờ cúng thần linh, đặc biệt là Thủy thần – những vị thần nắm giữ sức mạnh biển cả thường gọi là ông Sông, bà Bể. Mỗi khi ra khơi hay có việc quan trọng, họ đều làm lễ cúng Thủy thần tại các miếu thờ đặt trong khe núi hoặc ven chân đảo trên vịnh.

Cầu xin ông Sông, bà Bể phù hộ độ trì (Nguồn: BQLDSTG vịnh Hạ Long- Yên Tử).

Dọc các bãi đất ven chân đảo, núi đá và ven bờ vịnh cũng từng hiện diện nhiều đền thờ nhân thần. Theo tư duy tín ngưỡng của ngư dân, những người khi sống có công với dân với nước, gắn bó với vùng biển này thì khi hóa vẫn hiển ứng phù hộ độ trì. Những ngôi đền, miếu linh thiêng như đền Trần Quốc Nghiễn, đền Bà Men, đền Đầu Mối… là điểm tựa tinh thần vững chắc, thường xuyên được ngư dân và các tổ chức, cá nhân hương khói vào ngày mùng một, hôm rằm và lễ Tết.

Cuộc sống gắn liền với nghề cá cũng hình thành nên một hệ thống phong tục, tập quán vô cùng đặc sắc với những điều kiêng kỵ nghiêm ngặt được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trong lao động, họ tuyệt đối không bước hoặc giẫm chân lên ngư cụ vì sợ mất may mắn, khiến chuyến đi thất thu cá tôm. Trước giờ xuất bến, ngư dân kiêng chèo thuyền cắt ngang mũi thuyền khác để tránh điềm xui rủi, cản trở. Phụ nữ không đứng ở đầu mũi thuyền khi chuẩn bị đánh bắt, và họ cũng tránh nhổ neo khi có thuyền khác đi ngang qua trước mũi. Trong việc đóng thuyền, người dân kiêng khởi công vào những ngày xấu, đồng thời kiêng chuẩn bị chuyến đi biển cho đàn ông nếu trong nhà đang có phụ nữ mang thai. Khi thi công, thợ tránh để bóng của mình che lên phần thuyền đang đóng và không hướng mũi thuyền về các phương hướng không phù hợp. Không chỉ trong lao động, đời sống thường ngày cũng gìn giữ nhiều quy tắc ứng xử cộng đồng. Khách đến chơi nhà tuyệt đối không ngồi giữa cửa vì đó là không gian linh thiêng kết nối với bàn thờ tổ tiên. Khách cũng tránh hỏi về nơi chôn cất người đã khuất để giữ gìn sự yên tĩnh, trang nghiêm. Đặc biệt, người dân kiêng nướng ốc trong bếp vì tin rằng việc này sẽ làm mất đi sự ấm áp, may mắn của gia đình và con thuyền. Từ góc độ văn hóa, những tập tục này là minh chứng sinh động cho quá trình hình thành bản sắc riêng biệt, thể hiện sợi dây gắn kết chặt chẽ giữa con người với môi trường tự nhiên nơi họ sinh sống.

 

Nếu cư dân nông nghiệp có những lễ hội gắn liền với đồng ruộng thì phong tục của cư dân vạn chài lại gắn chặt với biển khơi xuyên suốt từ trước, trong cho đến sau Tết. Trước Tết, vào ngày 23 tháng Chạp khi ông Công ông Táo lên trời, tiêu biểu có tục trồng cây nêu của cư dân Cửa Vạn. Khác với đất liền trồng nêu để trừ tà, cây nêu của ngư dân được làm từ cây giếng nguộc – loại cây phổ biến trên đảo đá vịnh Hạ Long – và được trồng trước mũi thuyền, cột buồm hoặc cửa nhà bè nhằm làm dấu hiệu riêng để linh hồn tổ tiên nhận biết đường về sum họp ăn Tết cùng con cháu. Vào đầu xuân năm mới, các gia đình thường làm những chiếc thuyền nhỏ bằng bẹ chuối, cắm cờ giấy xanh đỏ, đặt gạo và hương rồi thả xuống biển để tiễn biệt năm cũ, cầu mong một năm mới thuận buồm xuôi gió. Ngay sau những ngày Tết đầm ấm, để chuẩn bị cho một mùa biển mới, ngư dân lại tiến hành lễ giở mũi thuyền. Chủ nhà sẽ chọn ngày tốt, giờ hoàng đạo sắm lễ cúng tổ tiên, thần thánh cầu việc làm ăn "thuận buồm xuôi gió, xuôi chèo mát mái", rồi nhổ neo xuất hành theo hướng hợp tuổi. Lúc này, họ kiêng không để vật hay thuyền khác chắn trước mũi thuyền của mình để tránh cả năm gặp trở ngại.

Đặc biệt, đời sống tinh thần của cư dân vạn chài còn được thể hiện qua các lễ hội truyền thống, tiêu biểu nhất là lễ hội đình Giang Võng.

Lễ rước nước trong lễ hội truyền thống của cư dân vạn chài Hạ Long(Nguồn: BQLDSTG vịnh Hạ Long- Yên Tử). 

Xưa kia, lễ hội được tổ chức quy mô định kỳ 5 năm hoặc 10 năm một lần để tưởng niệm Thành hoàng, các vị thần, tổ tiên và cầu mong dân làng khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Đến tháng 12/2009, lễ hội đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh phục dựng nguyên gốc trong dự án bảo tồn văn hóa dân gian ngư dân Cửa Vạn. Hoạt động độc đáo nhất là lễ rước bài vị vua Thủy Tề và bình nước thiêng ra sông Cửa Lục bằng đội thuyền chài mang hình rồng, lấy nước tại cửa sông nơi có dòng chảy đón các đàn cá đi qua, rồi rước về đất liền để cầu trời yên bể lặng, tôm cá đầy khoang. Bên cạnh phần lễ, phần hội cũng diễn ra sôi nổi với đua thuyền chải, hát giao duyên, kéo co và vật dân tộc, trở thành nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu góp phần tôn vinh giá trị của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Bên cạnh đời sống tâm linh, nét đẹp văn hóa của ngư dân vạn chài còn được thể hiện sinh động qua phong tục cưới gả. Khi trưởng thành, nam nữ thường tự tìm hiểu nhau bằng cách mượn điệu hát giao duyên để ngỏ lời hoặc qua người mối lái. Trình tự lễ cưới xưa và nay được tiến hành qua bốn bước là lễ dạm, lễ hỏi, lễ dẫn trầu và lễ cưới, dưới sự dẫn dắt bắt buộc của một người "bồ đà" am hiểu phong tục, có tài ăn nói và có gia đình hạnh phúc. Trước khi rước dâu, nghi thức hát đối đáp là thử thách không thể thiếu nhằm mang lại lời chúc phúc cho đôi trẻ. Điểm đặc biệt nhất là các đám cưới xưa đều diễn ra trong không gian ấm cúng của những con thuyền, nhà bè ghép lại, minh chứng cho sự gắn kết cộng đồng bền chặt.

Những câu hát giao duyên giữa mênh mông đá núi (ảnh BQLDSTGVHL-YT)

Hiện nay, chủ trương đưa cư dân làng chài lên bờ định cư đã nâng cao đời sống vật chất và tạo thuận lợi cho việc bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản vịnh Hạ Long. Dù cuộc sống hiện tại đã ổn định trên đất liền nhưng những di sản tinh thần ấy vẫn luôn hòa quyện trong bản sắc vùng vịnh. Giữ gìn các giá trị này không chỉ là bảo tồn một nét văn hóa biển độc đáo mà còn là sự trân trọng đối với những con người đã từng gắn bó, làm nên một phần linh hồn cho vịnh Hạ Long, để mỗi khi nhắc đến nơi đây, chúng ta không chỉ nhớ đến một kỳ quan thiên nhiên kỳ vĩ mà còn nhớ đến chiều sâu văn hóa của những cư dân từng lấy biển làm nhà.

Nguyễn Hằng Nga