Nhìn lại bản hương ước năm 1942 của cư dân vạn chài Hạ Long xưa
Vịnh Hạ Long không chỉ có cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ làm say đắm lòng người mà còn chứa đựng chiều sâu lịch sử - văn hóa của những con người từng gắn bó suốt đời với sóng nước. Nhìn ra mặt vịnh hôm nay, những con thuyền từng là nơi cư trú của cư dân vạn chài đã không còn hiện diện như trước nhưng cách người dân tổ chức đời sống, ứng xử với nhau và cùng gánh vác việc chung vẫn được phản ánh qua hai bản Hương ước năm 1942 của làng Giang Võng và Trúc Võng – hai làng chài cổ gắn với không gian vùng Cửa Lục, Cái Lân. Đây là những tư liệu quý giúp chúng ta hôm nay hình dung rõ hơn về đời sống của một cộng đồng từng gắn bó với vùng sông nước Hạ Long.

Giở lại những trang Hương ước năm 1942, điều dễ nhận thấy là cuộc sống của cư dân vạn chài ngày trước không phải một đời sống tự phát, “mạnh ai nấy sống”. Không gian ra đời của Hương ước làng chài không có cổng làng bằng gạch hay ranh giới đất liền cố định mà trải rộng trên vùng sông nước, luồng lạch nơi cư dân sinh sống. Giữa biển trời rộng lớn, những con thuyền gỗ, bè tre neo đậu rải rác đứng trước nhiều rủi ro từ thời tiết, thiên tai và những biến động của cuộc sống. Chính những quy ước chung đã tạo nên khuôn khổ để các gia đình cùng gắn bó, hình thành một cộng đồng có tổ chức và cùng nhau lo liệu việc chung.
Trong cộng đồng ấy, việc làng được phân công rõ ràng cho những người phụ trách việc chung của làng như Lý trưởng, Thư ký, Chánh hội, cùng gánh vác công việc của cộng đồng. Các quy định chung được áp dụng đối với mọi thành viên. Khi thực hiện nghĩa vụ và tham gia sinh hoạt làng, dù là người dân chài quanh năm bám biển, người làm việc chung hay người có chức vị, học vị, tất cả đều phải tuân theo những quy ước đã được đặt ra. Điều đó cho thấy đời sống của cư dân vạn chài xưa đã có những nguyên tắc rõ ràng để mọi người cùng thực hiện.
Sự chặt chẽ trong cách tổ chức đời sống vạn chài không dừng lại ở những lời kêu gọi cảm tính hay khẩu hiệu suông mà được cụ thể hóa một cách vô cùng minh bạch. Làng cho lập Bảng kê đối các vị thứ, xếp ngang các danh vị quan chức, học vị phong kiến, tân học và các chức dịch hương thôn. Bảng kê này không chỉ là sự công nhận vị trí xã hội mà còn là căn cứ pháp lý để tính toán hai khoản đóng góp quan trọng của làng là tiền "Khao" (tiền làm mâm cỗ mừng khi một người nhận vị thứ hoặc chức việc trong làng) và tiền "Vọng" (khoản tiền nghĩa vụ đóng góp vào quỹ chung của làng vạn). Việc công khai minh bạch từng khoản tiền bằng văn bản chi tiết giúp người dân chài nghèo nắm rõ nghĩa vụ tài chính của mình đồng thời tránh việc những người quản lý việc làng tự ý thu thêm tiền hay gây khó dễ cho bà con lao động trên sông nước.
Đặc biệt, bản Hương ước năm 1942 đã đưa việc riêng của từng gia đình trở thành trách nhiệm chung của cả cộng đồng, thể hiện rõ nhất qua văn hóa ứng xử nhân văn trong nghi lễ tang lễ, cấm hẳn việc bắt gia đình có tang quyến phải bày cỗ bàn ăn uống tốn kém, gây thêm gánh nặng tài chính. Để đảm bảo tính nghiêm minh, nếu người quản lý việc làng hoặc bất kỳ dân làng nào hạch sách, đòi hỏi gia đình có đám tang phải làm cỗ thì sẽ bị phạt 3 đồng tiền cước và chịu hình phạt "bị tước vị thứ, không cho tham gia việc làng hay ngồi ở vị trí trang trọng trong đình khi có lễ hộ trong thời hạn 2 năm. Đây là hình phạt đánh vào lòng tự trọng và danh dự, nhắc nhở những người gánh vác việc làng luôn giữ trọn tư cách và sự tôn nghiêm đối với bà con..
Nếu những quy định về khao, vọng cho thấy cách cộng đồng sắp xếp các nghĩa vụ chung thì những điều khoản về tang lễ lại cho thấy cách cư dân vạn chài đối xử với nhau trong những lúc khó khăn nhất. Hương ước năm 1942 cấm việc bắt gia đình có tang phải bày cỗ bàn ăn uống tốn kém, tránh để nỗi đau mất người thân kéo theo thêm gánh nặng về tiền bạc. Quy định ấy đi cùng những chế tài cụ thể. Nếu người phụ trách việc làng hoặc dân làng hạch sách, đòi hỏi gia đình có tang phải làm cỗ thì sẽ bị phạt tiền bị tước vị thứ trong sinh hoạt đình làng, không được ngồi ở vị trí theo thứ bậc trong những dịp làng có việc. Cách xử lý này vừa giữ nghiêm quy ước, vừa nhằm ngăn việc lợi dụng chuyện tang ma để gây thêm gánh nặng cho gia đình có người qua đời.

Cùng với sự nghiêm minh ấy là tinh thần tương trợ. Khi trong làng có người qua đời, những người phụ trách việc chung và bà con trong làng có trách nhiệm cắt cử người đến giúp gia đình lo liệu việc an táng. Với những trường hợp quá khó khăn, làng có quy định hỗ trợ từ nguồn quỹ chung. Sự nghiêm minh của lệ làng đi cùng tình nghĩa cộng đồng đã giúp những gia đình gặp cảnh đau buồn, khó khăn không phải một mình xoay xở.
Sống giữa môi trường sông nước vốn nhiều biến động và rủi ro, sự an toàn của một cá nhân chưa bao giờ được xem là chuyện riêng của một nhà. Bản Hương ước đã thiết lập các quy tắc nghiêm ngặt về giữ gìn an ninh, tuần phòng trên biển, nghĩa vụ cứu giúp người gặp nạn và trách nhiệm chung của tập thể khi có sự cố thiên tai, giông lốc xảy ra, tương trợ lẫn nhau cho đến việc ghi nhận công lao của những người dũng cảm cứu nạn, bản Hương ước năm 1942 chính là phương cách ứng xử thông minh, giúp cư dân vạn chài thích ứng với môi trường sống khắc nghiệt và bảo vệ lẫn nhau giữa biển cả.
Nhìn lại Hương ước năm 1942 cũng cho thấy một cộng đồng vạn chài đang sống trong một giai đoạn xã hội có nhiều thay đổi. Trong các bảng kê của Hương ước xuất hiện cùng lúc những danh vị, học vị của nền học cũ và những chức danh, trình độ của nền học mới. Điều đó phần nào phản ánh sự chuyển biến của xã hội thời đó
Vì thế, Hương ước không chỉ giúp biết người xưa quy định việc làng ra sao mà còn mở ra một lát cắt về xã hội vạn chài Hạ Long hơn 80 năm trước. Qua những điều khoản tưởng như khô khan, người hôm nay có thể hình dung một cộng đồng sống trên thuyền có những nguyên tắc thế nào để giữ gìn trật tự trong cuộc sống.

Theo dòng lịch sử, đến năm 2014, thực hiện chủ trương sắp xếp lại dân cư vạn chài trên vịnh gắn với bảo tồn cảnh quan thiên nhiên di sản, cư dân các làng chài xưa trên vịnh Hạ Long đã di chuyển lên bờ, tái định cư tại khu vực Cái Xà Cong (phường Hà Tu, Quảng Ninh). Từ đây, cuộc sống của những gia đình từng nhiều thế hệ gắn bó với sông nước dần chuyển sang một không gian sinh hoạt mới. Con em vạn chài có điều kiện đến trường, người lớn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế và chính sách an sinh xã hội. Những làng chài từng hiện diện trên mặt vịnh cũng từ đó lùi vào ký ức, để lại những dấu ấn văn hóa được lưu giữ qua tư liệu, câu chuyện và ký ức của nhiều thế hệ cư dân vạn chài.
Đối với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ là điều đầu tiên đưa du khách tìm đến nhưng chính chiều sâu lịch sử - văn hóa của con người nơi đây mới góp phần níu giữ họ. Nhìn lại bản Hương ước năm 1942 của cư dân vạn chài Hạ Long xưa không chỉ để nhắc nhớ về một thời cư dân vạn chài còn gắn bó với những con thuyền trên mặt vịnh mà còn để thấy rằng, đằng sau vẻ đẹp kỳ vĩ của đá và nước là cả một chiều sâu văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ, từ cách ứng xử, nếp sống kỷ cương đến tình làng nghĩa xóm. Tìm hiểu những giá trị ấy cũng là cách để mỗi người thêm trân trọng chiều sâu văn hóa của vùng di sản, từ đó cùng gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp, để Hạ Long không chỉ hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên mà còn bởi câu chuyện về con người đã làm nên bản sắc của vùng vịnh qua bao thế hệ.
Nguyễn Hằng Nga