Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa: Từ định hướng đến thực tiễn quản lý di sản
Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đang mở ra những phương thức mới trong bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản, từ số hóa tư liệu, kết nối dữ liệu đến ứng dụng công nghệ trong giám sát, quảng bá và phục vụ du khách. Với thành phố Quảng Ninh, nơi có Di sản thế giới vịnh Hạ Long và Yên Tử, chuyển đổi số không chỉ góp phần đổi mới phương thức quản lý mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các giá trị di sản, tạo thêm điều kiện để di sản được gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại.
Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 đặt ra định hướng thúc đẩy số hóa, xây dựng hệ sinh thái văn hóa số và ứng dụng công nghệ để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa. Cụ thể hóa định hướng này, ngày 30/9/2026, UBND thành phố Quảng Ninh ban hành Kế hoạch số 437/KH-UBND về chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch nhấn mạnh việc số hóa di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và tư liệu; ưu tiên các di sản được UNESCO ghi danh, di tích quốc gia đặc biệt và những di sản có nguy cơ mai một; xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển các hình thức tham quan trực tuyến, vé điện tử, thuyết minh đa ngôn ngữ, đồng thời thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và kết nối dữ liệu văn hóa. Đây là cơ sở để các đơn vị quản lý di sản cụ thể hóa chuyển đổi số theo chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu thực tiễn.
Với Ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử, các công cụ số đã được ứng dụng từ nhiều năm qua và đang tiếp tục được rà soát, hoàn thiện. Tại Yên Tử, mã QR và công nghệ thực tế ảo VR360 được đưa vào triển khai đã mở thêm cách tiếp cận di sản cho du khách, từ tra cứu thông tin điện tử đến tìm hiểu kiến trúc, hiện vật và các dữ liệu liên quan đến di tích. Nguồn tư liệu số này đồng thời hỗ trợ công tác quản lý, nghiên cứu, thuyết minh, trưng bày và giáo dục di sản. Dọc tuyến tham quan, hệ thống camera an ninh được lắp đặt tại các điểm chùa; camera AI được ứng dụng hỗ trợ quản lý lượng khách, góp phần kiểm soát hoạt động tham quan và giảm áp lực nhân lực trực tiếp. Vé điện tử cũng đã được triển khai từ sớm, từng bước hiện đại hóa quy trình phục vụ và quản lý hoạt động tham quan tại khu di tích.

Trên vịnh Hạ Long, công nghệ số được ứng dụng cả trong phục vụ du khách và giám sát hoạt động trên vùng di sản. Hóa đơn điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, mã QR góp phần đơn giản hóa giao dịch, tăng tính thuận tiện trong quá trình tham quan. Camera, thiết bị định vị GPS và hệ thống thông tin liên lạc VHF hỗ trợ theo dõi hoạt động của phương tiện, duy trì trao đổi thông tin và nâng cao khả năng giám sát trên Vịnh. Đặc thù địa bàn rộng, nhiều khu vực xa bờ cũng đặt ra yêu cầu tăng cường hạ tầng kết nối. Hệ thống viễn thông của Viettel đã được triển khai tại ba khu vực; wi-fi được lắp đặt tại một số hang động, tạo điều kiện để du khách tiếp cận thông tin. Việc kết nối Starlink được thử nghiệm tại một số điểm công tác, hướng tới cải thiện khả năng liên lạc tại những nơi hạ tầng thông thường còn hạn chế. Những ứng dụng này cho thấy chuyển đổi số không chỉ mở rộng cách thức giới thiệu di sản mà còn hỗ trợ thiết thực cho công tác quản lý tại những khu vực có điều kiện địa hình đặc thù.
Trên nền tảng đã có, Ban đang tập trung triển khai, hoàn thiện các nhiệm vụ chuyển đổi số theo hướng tăng khả năng kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý. Trọng tâm gồm hệ thống bán và kiểm soát vé điện tử tại vịnh Hạ Long; camera giám sát thông minh tại cảng, bến và điểm tham quan; Trung tâm giám sát, điều hành hoạt động du lịch Hạ Long - Bái Tử Long; hệ thống quản lý, kiểm soát khách tham quan tại Yên Tử và nhiệm vụ số hóa di sản. Khi được triển khai đồng bộ, các hệ thống này sẽ hỗ trợ theo dõi hoạt động tham quan, cung cấp dữ liệu phục vụ điều hành và nâng cao hiệu quả quản lý.
Hiệu quả chuyển đổi số không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn gắn với năng lực ứng dụng của đội ngũ viên chức, người lao động. Ban đã triển khai các hoạt động hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, tổ chức tập huấn về truyền thông di sản trên nền tảng số và ứng dụng AI cho 35 viên chức, người lao động. Đội ngũ viên chức, lao động cũng tham gia các lớp đào tạo về cổng dữ liệu, cơ sở dữ liệu di sản văn hóa, nâng cao năng lực số và quảng bá văn hóa, thể thao, du lịch. Việc bồi dưỡng tiếp tục cần gắn với yêu cầu công việc, từ cập nhật, khai thác dữ liệu đến ứng dụng công nghệ trong quản lý và truyền thông, để chuyển đổi số thực sự trở thành một phần trong hoạt động chuyên môn hằng ngày.
Cùng với mở rộng ứng dụng công nghệ, bảo đảm an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình chuyển đổi số. Ban đã ban hành các quy định liên quan đến quản lý, vận hành mạng nội bộ và các website; xây dựng phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ. Hệ thống mạng nội bộ được phê duyệt cấp độ 1, website halongbay.com.vn được phê duyệt cấp độ 2. Sau khi kiện toàn tổ chức, hai trang thông tin điện tử tổng hợp tiếp tục được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định.
Từ định hướng của Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kế hoạch số 437/KH-UBND của thành phố Quảng Ninh, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa tại Ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử đã và đang tiếp tục được triển khai đồng bộ, từ số hóa tư liệu, kết nối dữ liệu, ứng dụng công nghệ trong quản lý đến nâng cao năng lực đội ngũ và bảo đảm an toàn thông tin. Trọng tâm không chỉ là bổ sung các công cụ hiện đại, mà còn là khai thác hiệu quả dữ liệu và công nghệ để phục vụ trực tiếp công tác bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản. Đây cũng là cơ sở để từng bước phát triển các hình thức tiếp cận, trải nghiệm văn hóa trên môi trường số, nâng cao chất lượng phục vụ công chúng và gắn chuyển đổi số với mục tiêu bảo tồn di sản bền vững.
Trần Thị Hường