Từ hương ước xưa tìm về nếp sống vạn chài trên vịnh Hạ Long

 

Trên vịnh Hạ Long hôm nay, những làng chài đã lùi vào ký ức. Mặt nước vẫn xanh, núi đá vẫn soi bóng, nhưng nhịp sống của cư dân vạn chài từng gắn bó với những con thuyền năm nào chỉ còn được lưu giữ trong những câu chuyện và trang tư liệu cũ. Chính từ những tư liệu ấy, một phần đời sống của cư dân vạn chài xưa dần hiện lên qua cách họ cùng nhau dựng xây một cộng đồng giữa sóng nước.

Những làng chài từng hiện diện trên mặt vịnh Hạ Long là không gian sinh sống, lao động và gắn kết cộng đồng của cư dân vạn chài xưa.(Ảnh sưu tầm).

Hương ước năm 1942 của hai làng chài Giang Võng và Trúc Võng là một trong những tư liệu như thế. Mỗi điều khoản tưởng chỉ là một quy định của làng nhưng khi ghép lại, chúng kể cho chúng ta câu chuyện về một cộng đồng biết tự quản, biết sẻ chia và cùng nhau tạo nên một cuộc sống vừa có kỷ cương vừa đậm nghĩa tình. 

 

Tư liệu hương ước năm 1942 của làng Giang Võng và Trúc Võng được chép lại trong sách chuyên khảo “Di sản văn hóa làng chài vịnh Hạ Long” (2010).

Nếp sống ấy được tạo nên từ chính những việc diễn ra trong đời thường. Có người đứng ra lo việc làng, người đảm nhận tuần phòng, người hòa giải khi xảy ra bất hòa; khi một gia đình gặp chuyện chẳng may, cộng đồng cũng có những quy định để cùng chung tay. Những việc tưởng như rất nhỏ, khi được đặt thành lệ, đã trở thành nguyên tắc để mọi người cùng tuân theo và giữ gìn cuộc sống chung.

Trong đời sống của cư dân vạn chài, sự bình yên của mỗi gia đình không chỉ là việc riêng của từng nhà mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng. Việc canh phòng được giao cho những người có trách nhiệm và thực hiện theo lượt. Lực lượng Phu tuần được cắt cử từ hoàng đinh (nam giới từ 18 đến 50 tuổi chưa có chức vị), thay nhau làm nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ sự an toàn chung của làng (Điều 17 Hương ước Trúc Võng, 1942).

Mỗi đêm, thuyền tuần tra mang theo trống, cờ tam tài (cờ ba màu) và mác để làm hiệu lệnh, luân phiên tuần phòng trong khu vực cư dân sinh sống. Việc canh gác được đặc biệt chú ý trong những đêm giông bão và những thời điểm thường xảy ra trộm cắp, trong đó có ‘tháng củ mật - tháng 12 âm lịch (Điều 20, Hương ước làng Trúc Võng năm 1942).

Cuộc sống lênh đênh trên mặt nước khiến cư dân vạn chài phải dựa vào nhau trong lao động, sinh hoạt và ứng phó với những tình huống bất ngờ (Ảnh sưu tầm).

Người làm tốt nhiệm vụ được khuyến khích bằng những khoản thưởng cụ thể. Bắt được một tên trộm được thưởng 3 đồng, bắt được một tên cướp được thưởng 5 đồng (Điều 28 Hương ước Giang Võng và Trúc Võng, 1942). Nhưng đi cùng quyền lợi là trách nhiệm. Nếu tuần tráng (lực lượng được giao nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ an ninh) và lý dịch (các viên chức hành chính trong làng như Lý trưởng, Phó lý) lơ là nhiệm vụ, để xảy ra mất trộm mà không tìm được thủ phạm, họ phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường một phần giá trị tài sản bị mất (Điều 26, 27 Hương ước Trúc Võng, 1942).

Kỷ luật trị an thời ấy được thiết lập rõ ràng, vừa nghiêm minh, vừa đề cao tính tự giác của mọi người, đồng thời giúp xóm chài duy trì sự yên bình, người dân có thể yên tâm làm ăn và trở về với gia đình sau những ngày lênh đênh trên vịnh.

Nếu tuần phòng là cách làng chủ động giữ gìn bình yên thì việc ứng cứu khi có người gặp nạn lại cho thấy rõ hơn cách cộng đồng ứng xử trước những sự cố bất ngờ. Sống trên sông nước, cư dân khó tránh khỏi những sự cố liên quan đến thuyền bè và con người. Vì vậy, khi có hiệu lệnh cấp cứu, những người thuộc độ tuổi theo quy định phải nhanh chóng tham gia ứng cứu. Ai cố tình đứng ngoài, không tham gia cứu giúp người gặp nạn, sẽ bị phạt và có thể bị “truất ngôi thứ đình trung” - bị tước thứ bậc trong sinh hoạt đình làng trong một thời gian nhất định (Điều 38, 39 Hương ước Trúc Võng; Điều 39 Hương ước Giang Võng, 1942). Ngược lại, người tham gia cứu giúp cũng được làng ghi nhận. Người bị thương được hỗ trợ tiền thuốc; người bị tàn tật được cấp tiền và nâng một vị thứ. Nếu chẳng may thiệt mạng khi tham gia cứu nạn, làng có khoản tiền tử tuất và cả làng phải đưa đám (Điều 40, Hương ước làng Trúc Võng và Giang Võng, năm 1942).

Những con thuyền mộc mạc từng là phương tiện gắn bó mật thiết với đời sống, lao động và sinh hoạt của cư dân vạn chài trên vịnh (Ảnh sưu tầm).

Những quy định ấy khiến việc cứu người không chỉ là chuyện tình cảm mà trở thành một trách nhiệm đã được cộng đồng đặt thành lệ. Khi một người gặp nạn, việc cứu giúp họ cũng trở thành việc chung của cả làng, tình người trên sóng nước nhờ vậy mà bền chặt.

Không chỉ cùng nhau giữ gìn sự bình yên, cư dân vạn chài còn sớm hình thành ý thức giữ gìn môi trường sống chung. Việc vứt rác hoặc súc sản (gia súc, gia cầm) chết xuống nguồn nước ăn, đường đi, luồng lạch đều bị cấm và người vi phạm bị phạt tiền (Điều 47 Hương ước Trúc Võng; Điều 48 Hương ước Giang Võng, 1942). Khi trong làng có người mắc bệnh truyền nhiễm hoặc xảy ra tình trạng gia súc, gia cầm bị chết do dịch bệnh, gia đình phải báo cho chức dịch để có biện pháp đề phòng. Người cố tình giấu giếm sẽ bị phạt (Điều 48, 49 Hương ước Trúc Võng, 1942). Trong hoàn cảnh nguồn nước vừa là nơi sinh sống, vừa phục vụ sinh hoạt và đi lại, những quy định ấy cho thấy người xưa đã ý thức rằng giữ gìn môi trường cũng là giữ gìn sự an toàn cho cả cộng đồng. 

Cộng đồng đông người khó tránh khỏi những lúc cãi cọ, va chạm hay tranh chấp. Khi xảy ra tình trạng bất ổn, Chánh hội (người đứng đầu Hội đồng hương chính) phải tổ chức hòa giải trước để giữ nghĩa tình làng xóm, sau đó mới trình lên quan sở tại nếu sự việc không thể giải quyết trong làng (Điều 53 Hương ước Giang Võng; Điều 54 Hương ước Trúc Võng, 1942). Giữa một cộng đồng vạn chài lênh đênh trên sông nước, việc giữ được hòa khí cũng chính là giữ lấy sự bình yên cho cả xóm chài. Cách ứng xử ấy cho thấy Hương ước không chỉ dùng các chế tài xử phạt để răn đe mà còn ưu tiên sự hòa giải, giúp những bất hòa được gỡ bỏ kịp thời trong cộng đồng.

Không chỉ điều chỉnh những việc chung của cộng đồng, Hương ước còn quy định những việc quan trọng trong đời sống của mỗi gia đình. Từ chuyện cưới xin đến tang ma, những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của người vạn chài đều được Hương ước hai làng điều chỉnh theo hướng giản lược bớt hủ tục.

Với chuyện cưới xin, Điều 63, 64 của Hương ước Giang Võng và Trúc Võng đã cắt giảm sáu lễ rườm rà xuống còn ba lễ chính: vấn danh, ăn hỏi và lễ cưới. Tục “chăng dây” vòi tiền đám cưới cũng bị cấm, người vi phạm bị phạt 5 đồng. Nhờ vậy, việc cưới hỏi của người vạn chài được thực hiện đơn giản, tránh gây gánh nặng tài chính cho gia đình.

Cùng với việc giản lược nghi lễ cưới xin, Hương ước hai làng cũng quy định nghiêm minh về đạo đức gia đình nhằm giữ gìn nề nếp và thuần phong mỹ tục. Với hành vi thông dâm, dù là nam hay nữ vi phạm đều bị phạt 3 đồng và bị làng truy tố theo luật (Điều 65, 66 Hương ước Giang Võng và Trúc Võng). Trường hợp con gái chưa chồng mà chửa hoang, gia đình bị phạt 3 đồng; người đàn ông gây ra hậu quả cũng chịu mức phạt 3 đồng và bị “truất ngôi thứ đình trung” trong thời hạn 2 năm (Điều 66, 67 Hương ước Giang Võng và Trúc Võng).

Với tang ma, Điều 67, 68 của Hương ước Giang Võng và Trúc Võng quy định cấm việc bắt buộc tang gia phải mổ trâu, bò hoặc bày cỗ bàn ăn uống phung phí. Điều 70 và 71 của hai làng cũng quy định các nghi lễ cúng bái như tế thành phục, tế ngu (các nghi thức tang lễ cổ truyền) đều được thực hiện giản lược, tùy theo điều kiện của từng gia đình. Lệ phí đưa đám được phân chia thành ba hạng rõ ràng. Trong đó, hạng cùng đinh (những người dân nghèo, không có tài sản) được miễn toàn bộ lệ phí (Điều 71, 72 Hương ước Giang Võng và Trúc Võng), nhưng làng và các Giáp vẫn cắt cử người đến phụ giúp để tang lễ được tổ chức chu đáo, trang nghiêm.

Sự minh bạch và nhân văn trong đời sống vạn chài xưa còn thể hiện rõ qua việc thu thuế và các khoản lệ phí. Để tránh làm người dân phải gánh thêm những khoản chi phí không cần thiết, Hương ước hai làng nghiêm cấm việc tổ chức ăn uống tốn kém mỗi khi thu và phân bổ sưu thuế (Điều 13 Hương ước Giang Võng và Trúc Võng, 1942). Các khoản đóng góp vào quỹ công như tiền khao hay tiền vọng (tiền nhập tịch) để chính thức ghi tên vào sổ làng và nhận chỗ ngồi cũng được thông báo công khai (Điều 88 Hương ước Trúc Võng, 1942). Đặc biệt, khi người dân đến tuổi lên lão (60 tuổi), làng không bắt buộc phải nộp tiền vọng mà còn tôn vinh, trân trọng mời họ tham dự các dịp sóc vọng (mùng Một, ngày Rằm) và lễ thường tân – cúng cơm mới (Điều 89 đến 91 Hương ước Giang Võng; Điều 90, 92, 93 Hương ước Trúc Võng). Cách làm này cho thấy tư duy quản lý tiến bộ của người vạn chài xưa: vừa công khai các khoản đóng góp, hạn chế sự hạch sách, nhũng nhiễu, vừa thể hiện sự kính trọng đối với người cao tuổi và bớt gánh nặng tiền bạc cho người dân nghèo.

Trên vịnh Hạ Long hôm nay, ký ức về một thời vạn chài vẫn còn được lưu giữ (Ảnh sưu tầm)

Qua Hương ước năm 1942 của làng Trúc Võng và Giang Võng, những nét đẹp bình dị, chân thật trong nếp sống của cư dân vạn chài Hạ Long xưa hiện lên rõ nét. Những quy định ấy là sự chắt lọc từ kinh nghiệm sông nước, lấy tính tự giác, sự đùm bọc và tình người làm gốc. Chính nếp sống tự quản, kỷ cương nhưng đượm nghĩa tình trên mạn thuyền xưa đã góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa của vùng vịnh Hạ Long..

Bởi vậy, gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa vạn chài ấy cũng là cách tiếp nối mạch nguồn lịch sử, để Hạ Long không chỉ níu chân du khách bởi cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ mà còn bởi chiều sâu văn hóa được bồi đắp qua bao thế hệ cư dân vạn chài vùng vịnh biển này.

Hằng Nga