Chuyện phục dựng thuyền buồm cánh dơi
Bên dòng sông Chanh êm đềm, có một xưởng đóng thuyền vẫn ngày ngày vang lên tiếng đục đẽo như một nốt trầm níu giữ hồn xưa, nét cũ. Nơi đó, Nghệ nhân nhân dân Lê Đức Chắn, người đàn ông nay đã bước vào tuổi 77, là hậu duệ đời thứ 17 của dòng họ Lê vẫn miệt mài cùng con cháu bên những thớ gỗ, những mô hình và những bản vẽ để làm hồi sinh một huyền thoại - chiếc thuyền buồm cánh dơi ba vách vỏ gỗ có thể chạy ngược gió.

Con thuyền huyền thoại
Biết cầm cái đục từ năm 16 tuổi, ông Chắn là người duy nhất còn nắm giữ những bí quyết đóng loại thuyền độc đáo từng một thời kiêu hãnh thống trị vùng cửa biển Bạch Đằng. Nhìn những thanh gỗ xù xì, ít ai biết rằng để dựng nên một con thuyền buồm ba vách có khả năng đi ngược gió là cả một nghệ thuật tính toán chuẩn xác đến từng milimét. Theo lời kể của lão nghệ nhân, khâu quan trọng đầu tiên chính là chọn vật liệu. Gỗ dùng đóng thuyền phải là loại gỗ tốt, được tuyển chọn khắt khe, tuyệt đối không được sâu. Bởi lẽ, đối với người thợ đóng thuyền truyền thống, sinh mạng của cả gia đình ngư dân và những người đi biển nằm trọn trong tay họ. Một vết nứt nhỏ, hay một thớ gỗ lỗi cũng có thể dẫn đến tai họa khôn lường.
Cấu tạo ba vách của thuyền vô cùng phức tạp, tạo nên một kết cấu vững chãi, chịu được va đập mạnh từ sóng biển. Điểm làm nên danh tiếng lẫy lừng của loại thuyền này chính là thiết kế cánh buồm hình cánh dơi, cho phép con thuyền không chỉ chạy xuôi gió, chạy ngang gió, mà có thể đi ngược chiều gió. Đây chính là kỳ tích hàng hải mang đậm trí tuệ dân gian của người Việt mà không phải loại tàu thuyền nào cũng dễ dàng mô phỏng được.
Theo nhận định của ông Chắn, thuyền buồm ba vách không chỉ đơn thuần là công cụ mưu sinh, chở nặng tôm cá của ngư dân, mà nó còn chở cả một chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc. Ông Chắn cho rằng, chính con thuyền này đã tạo ra sự bất ngờ với địch, góp phần để cha ông xưa tạo nên chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Lật giở trang ký ức về những năm tháng kháng chiến chống Pháp, khi những chiếc thuyền buồm âm thầm rẽ sóng đưa hàng vạn cán bộ Việt Minh ra các cơ sở bí mật tại Hải Phòng. Rồi đến những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giai đoạn 1967-1968, trong Chiến dịch VT5 lịch sử, hàng trăm chiếc thuyền buồm của 4 hợp tác xã vùng Yên Hưng (Phong Hải, Đại Thành, Hồng Phong, Bạch Đằng) đã bất chấp mưa bom bão đạn, vận chuyển hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Sự can trường của những người con làng biển và những con thuyền ấy đã viết nên huyền thoại, để rồi vào năm 2000, 4 hợp tác xã này đã vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều khiến người đời kính trọng ở Nghệ nhân nhân dân Lê Đức Chắn không chỉ nằm ở đôi bàn tay tài hoa, mà còn ở cái đức độ của một người thợ già. Mỗi lần nhắc về cuộc đời làm nghề, ông không bao giờ khoe khoang thành tích, mà lại rưng rưng xúc động khi nhớ về một kỷ niệm xưa. Ông Chắn kể: "Tiếng rìu đẽo gỗ, mùi gỗ lim, gỗ táu, những buổi theo chân các bậc thợ cả học từng đường đẽo, từng cách ghép ván... đã trở thành một phần ký ức không thể phai mờ trong tôi. Đối với tôi, mỗi con thuyền hoàn thành không chỉ là một sản phẩm lao động, mà còn là một tác phẩm mang theo tâm huyết, niềm tự hào và trách nhiệm gìn giữ nghề tổ".
Khi ấy, ông Chắn mới đôi mươi, theo cha đi đóng thuyền thuê ở vùng Hà An cho gia đình ông Thép. Ngày con thuyền hoàn thành cũng là lúc một đợt gió bấc, mưa phùn tràn về, cái rét cắt da, cắt thịt bủa vây xóm chài nghèo. Gia đình chủ thuyền túng quẫn đến mức không có một đồng tiền công để trả, lũ trẻ nhỏ đứng co rúm, phong phanh trong manh áo mỏng.
Thấu cảm trước hoàn cảnh ấy, cha con ông Chắn đã bàn giao con thuyền mà không lấy một đồng thù lao, đổi lại là giọt nước mắt biết ơn và hơi ấm của tình người lan tỏa giữa mùa đông giá rét. Ông Chắn bảo, cha ông ngày xưa luôn dạy rằng làm nghề giỏi thôi chưa đủ, kỹ thuật cao đến mấy cũng phải đi đôi với cái đức, dù khách hàng có nghèo khổ, mình vẫn phải làm hết trách nhiệm bằng cả cái tâm trong sáng để xứng đáng với nghiệp lớn của tổ tiên truyền lại.

Từ sông ra biển
Thế nhưng, có những giai đoạn lịch sử chuyển mình, những giá trị cũ đứng trước bờ vực sinh tử. Trận bão lịch sử năm 1955 đã cuốn trôi và làm mất mát đi rất nhiều tư liệu cổ về cách đóng thuyền buồm ba vách. Bước vào thời kỳ đổi mới, khi những con tàu vỏ sắt hiện đại, to lớn, có sức chống chịu cao dần chiếm lĩnh mặt biển. Thuyền buồm cánh dơi mộc mạc cứ thế thưa thớt dần rồi mất hút. Chính sách cấm tàu nhỏ khai thác ven bờ, cùng việc thắt chặt khai thác gỗ rừng đã thu hẹp hoàn toàn “không gian sống” của thuyền gỗ.
Ngay cả những đứa con, đứa cháu trong gia tộc họ Lê cũng dần quay lưng với tiếng cưa, tiếng đục để chuyển sang đóng tàu vỏ sắt công nghiệp. Làng nghề đóng thuyền Cống Mương sầm uất ngày nào đứng trước nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn khỏi bản đồ di sản tri thức dân gian về nghề truyền thống. Đã có lúc, ông Chắn tưởng như mình là kẻ độc hành giữa thời cuộc. Nhưng tình yêu máu thịt với những cánh buồm không cho phép ông buông xuôi. Ông lặn lội tìm kiếm, may mắn phát hiện lại được tấm bia đá cổ từ thời vua Tự Đức ghi chép về làng nghề, rồi cất công xin chính quyền phục dựng, duy trì ngày giỗ tổ để tri ân “thánh sư”. Ông cũng bền bỉ kể lại những câu chuyện về biển cả cho thế hệ trẻ với hy vọng neo giữ hồn cốt nghề của cha ông.
Và rồi, sự kiên trì của người nghệ nhân suốt bao năm tháng cuối cùng cũng đã kết trái ngọt. Giữa xu thế phát triển du lịch bền vững và tôn vinh các giá trị văn hóa bản địa, đề án phục dựng những cánh buồm huyền thoại đã được thắp sáng. Tỉnh Quảng Ninh đã quyết định đưa vào khai thác các chiếc thuyền buồm ba vách truyền thống ngay trên vịnh Hạ Long.
Nhiều cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp tìm đến đặt hàng ông Chắn. Ông sửa soạn mâm lễ kính cáo tổ tiên xin được hạ con thuyền mô hình vốn là vật gia bảo trên bàn thờ xuống để đo vẽ, nhân bản lên đúng bằng kích thước thật. Những con thuyền được đóng hoàn toàn bằng gỗ theo đúng phương pháp thủ công nghiêm ngặt, sơn màu nâu trầm cổ kính, mang theo kỹ thuật chạy ngược gió độc nhất vô nhị.
Ông Chắn bảo, để trợ lực cho con thuyền chạy được khi không có gió, ông đã cải tiến nó, lắp cho mỗi chiếc một hệ thống máy nổ và chân vịt. Mỗi con thuyền được đóng vừa giữ đúng dáng vẻ, kỹ thuật truyền thống của cha ông, vừa đáp ứng các yêu cầu về an toàn và chất lượng trong điều kiện hiện nay. Đó là một quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ và sự kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm cổ truyền với kỹ thuật mới.

Khi những chiếc thuyền buồm ba vách đầu tiên chính thức hạ thủy và đi vào hoạt động ven bờ, người dân vùng cửa biển Bạch Đằng và du khách đến với Hạ Long đã không khỏi xúc động. Đã mấy mươi năm trôi qua, họ mới lại được chứng kiến những cánh buồm đỏ thắm hình cánh dơi kiêu hãnh căng gió, rẽ sóng lướt đi giữa những núi đá vôi trùng điệp của di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới. Đó không chỉ là sự xuất hiện của một sản phẩm du lịch độc đáo, mà chính là sự thức tỉnh mạnh mẽ của một di sản văn hóa tri thức dân gian về nghề truyền thống từng bị lãng quên.
Sự xuất hiện của những con thuyền ba vách buồm cánh dơi trên vịnh Hạ Long trong thời gian qua đã tạo nên một dấu ấn rất đặc biệt. Hình ảnh những cánh buồm đỏ nâu nổi bật giữa non nước hùng vĩ đã mang lại cảm xúc mạnh mẽ cho du khách. Nhiều người không chỉ thích thú chụp ảnh, tham quan mà còn muốn tìm hiểu về lịch sử và câu chuyện phía sau những con thuyền. Điều đó cho thấy giá trị văn hóa truyền thống đang được khơi dậy đúng cách sẽ trở thành một tài sản quý báu góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.
Người viết bài này đã có lần được ông Chắn cùng TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á và ông Ken Preston, một kỹ sư hàng hải người Mỹ kéo buồm đưa thuyền dong chơi trên sông Bạch Đằng. Ai cũng bồi hồi xúc động như thể mình đang được con thuyền đưa vào rong chơi trong miền dã sử.
Ông Chắn bộc bạch: "Tôi vô cùng xúc động khi thấy con thuyền ba vách buồm cánh dơi, di sản nghề truyền thống gắn bó mật thiết với vùng sông nước Bạch Đằng và người dân đảo Hà Nam quê hương chúng tôi xưa kia chở hàng hóa nay lại chở khách du lịch tham quan”.

"Tôi mong muốn việc phục dựng và phát triển thuyền ba vách sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, đầu tư của tỉnh và các ngành chức năng. Bên cạnh việc đóng mới thuyền phục vụ du lịch, cần chú trọng đến công tác bảo tồn và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ. Nếu có thể xây dựng các mô hình trải nghiệm, trưng bày, hoặc lớp học nghề truyền thống, chúng ta không chỉ giữ được kỹ thuật đóng thuyền, mà còn nuôi dưỡng niềm tự hào và tình yêu văn hóa dân tộc trong cộng đồng. Tôi cũng hy vọng thông qua những con thuyền, hình ảnh quê hương sông nước Bạch Đằng sẽ được lan tỏa rộng rãi hơn đến bạn bè trong và ngoài nước. Đó không chỉ là quảng bá du lịch, mà còn là cách chúng ta kể câu chuyện về lịch sử, về con người cần cù, sáng tạo và gắn bó với biển cả" - ông Chắn mong mỏi.
Nhìn cánh buồm đỏ rực rỡ dưới ánh hoàng hôn trên vịnh Hạ Long và nhìn vào đôi mắt ông Chắn, tôi nhận ra rằng, "lửa nghề" bên dòng sông Chanh chưa bao giờ tắt. Và linh hồn của biển xưa vẫn nằm sâu trong trái tim, cùng bàn tay của người nghệ nhân trọn đời chung thủy với những cánh buồm.
Theo Phạm Học - https://baoquangninh.vn/chuyen-phuc-dung-thuyen-buom-canh-doi-3414679.html