Ký ức vạn chài trên vịnh Hạ Long - Phần 1: Thuyền là nhà, biển là quê hương
Đằng sau vẻ đẹp của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long là câu chuyện về một cộng đồng ngư dân từng lấy biển làm nhà.

Vịnh Hạ Long từ lâu được biết đến như một kiệt tác thiên nhiên với hệ thống hàng nghìn đảo đá vôi, hang động và mặt nước đặc trưng, hội tụ những giá trị nổi bật về địa chất, địa mạo và cảnh quan. Tuy nhiên, bên cạnh các giá trị tự nhiên, không gian di sản này còn lưu giữ một lớp trầm tích văn hóa đặc sắc, được hình thành qua quá trình cộng đồng ngư dân thích nghi, khai thác và sinh sống lâu dài trên biển. Trong đó, văn hóa của cộng đồng ngư dân thủy cư là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên bản sắc lịch sử - văn hóa của Vịnh Hạ Long.
Theo các nhà nghiên cứu, cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long có lịch sử hình thành từ rất sớm. Từ hàng nghìn năm trước, cư dân tiền sử đã sinh sống trong các hang động ven biển và trên các đảo đá của vịnh. Trong quá trình thích nghi với môi trường biển đảo, phương thức cư trú và sinh kế của họ từng bước chuyển biến từ cư trú trong hang động sang sinh sống trên mặt nước, gắn bó với hoạt động khai thác và đánh bắt thủy, hải sản. Sự thích nghi lâu dài này đã hình thành nên các cộng đồng ngư dân thủy cư và hệ thống làng chài nổi tồn tại liên tục qua nhiều thế hệ.
Do cuộc sống thủy cư lênh đênh nay đây mai đó, người ngư dân đã lấy “thuyền làm nhà, biển là quê hương”. Nhà của họ không nằm trên đất liền mà là những con thuyền và những ngôi nhà bè nổi giữa sóng nước. Trước đây, các gia đình thường quây quần thành những xóm thuyền trên vịnh tại những khu vực an toàn, mực nước nông, kín gió để neo đậu. Những vị trí này không cố định mà có thể dịch chuyển vì nhiều lý do như tìm kiếm ngư trường mới, hoặc do quan niệm tâm linh khi vùng nước cũ không còn thuận lợi cho việc làm ăn. Thông thường, vài ba gia đình quần tụ bên nhau, rồi dần dần các thuyền khác từ nơi xa cùng đến thả neo, tạo thành xóm chài đông đúc.

Về sau, cùng với sự phát triển của đời sống, nhiều gia đình đã dựng những ngôi nhà bè kiên cố với khung và vách bằng gỗ, dùng thùng phi nhựa làm phao nâng đỡ trên mặt nước. Các nhà bè này vừa là nơi sinh hoạt, vừa là nơi nuôi trồng thủy sản và tiếp đón du khách khi cần thiết.
Chiếc thuyền gắn bó mật thiết với cuộc sống của mỗi gia đình ngư dân. Một con thuyền truyền thống thường được chia thành ba phần: Khoang lái ở phía sau là nơi đặt mái chèo hoặc máy nổ, bếp nấu ăn và đồ dùng sinh hoạt; khoang giữa là không gian sinh hoạt chung, nơi nghỉ ngơi và đặt bàn thờ tổ tiên; khoang mũi dành cho việc chứa ngư cụ, đan vá lưới và giữ sống cá.
Bên cạnh đó, phương tiện di chuyển phổ biến nhất của người dân là chiếc mủng nan (hay còn gọi là “cái Bơi”), một loại thuyền nhỏ, nhẹ, dễ luồn lách qua các luồng lạch hẹp và được ví như “chiếc xe đạp” của người dân trên biển. Ngoài chức năng đi lại, mủng nan còn kết hợp chở hàng buôn bán lương thực, thực phẩm, đi câu, đánh hà hoặc chèo đò chở khách tham quan để kiếm thêm thu nhập.

Đời sống vật chất của cộng đồng ngư dân thủy cư cũng mang những nét riêng biệt. Để phù hợp với môi trường sông nước và công việc chài lưới quanh năm, trang phục của ngư dân thường đơn giản, gọn nhẹ, màu sắc thiên về tông tối và ít khi đi dép. Trước đây, phụ nữ thường mặc áo bà ba, quần đen, vấn tóc hoặc búi tóc, dùng cặp cuốn. Đàn ông để đầu trần, mặc áo nâu sòng buộc dây và quần nâu. Vào các dịp lễ hội, nam giới thường mặc áo the khăn xếp, nữ giới mặc áo dài tứ thân duyên dáng, đầu đội khăn mỏ quạ, vấn tóc bọc khăn nhung đen.
Cuộc sống mưu sinh phụ thuộc hoàn toàn vào con nước và mùa cá nên thời gian sinh hoạt của họ cũng khác biệt với đất liền: Ngư dân thường đi đánh bắt vào chiều hôm trước và trở về vào sáng hôm sau. Họ chỉ ăn hai bữa chính trong ngày (sáng từ 8 đến 9 giờ và chiều từ 3 đến 4 giờ) với nguồn thực phẩm chủ yếu là các loại hải sản tươi sống do chính họ đánh bắt được quanh các chân đảo trên vịnh.

Không chỉ tạo dựng một đời sống vật chất thích nghi với biển cả, cộng đồng ngư dân làng chài trên vịnh Hạ Long còn hình thành nên nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc. Trong quá trình lao động, họ đã sáng tạo nên những làn điệu hát giao duyên (hát đúm, hò biển), những phong tục tập quán và kho tàng tri thức dân gian phong phú về con nước, luồng lạch, thời tiết. Sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên đã tạo nên một bản sắc văn hóa riêng có, không thể trộn lẫn.
Nhằm bảo đảm điều kiện sống tốt nhất cho người dân, đồng thời thực hiện mục tiêu bảo tồn, hoàn nguyên môi trường sinh thái của di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, năm 2014, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện cuộc di dời lịch sử – đưa toàn bộ cộng đồng ngư dân thủy cư lên bờ sinh sống. Đây là một quyết sách mang ý nghĩa lớn, giúp người dân được tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế và các dịch vụ an sinh xã hội, đồng thời góp phần gìn giữ vẻ đẹp nguyên sơ, bền vững cho vịnh Hạ Long.

Ngày nay, những xóm thuyền lênh đênh trên mặt nước đã lùi vào quá khứ, nhưng ký ức và linh hồn của một cộng đồng từng lấy biển làm nhà vẫn sống mãi trong dòng chảy văn hóa của vịnh Hạ Long. Được hun đúc qua nhiều thế hệ, những giá trị văn hóa độc đáo ấy đã trở thành một phần di sản không thể tách rời. Đến với vịnh Hạ Long hôm nay, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên vĩ đại, mà còn có cơ hội cảm nhận sâu sắc câu chuyện về những con người đã từng làm nên một phần "linh hồn" của di sản.
Hằng Nga