Kho tàng “trí tuệ biển” của cư dân vạn chài Hạ Long
Kỳ 2: Văn hóa trong sinh hoạt thường ngày
Giữa hàng nghìn đảo đá kỳ vĩ của vịnh Hạ Long, cộng đồng cư dân vạn chài đã tạo dựng nên một không gian văn hóa biển đặc sắc, mang đậm dấu ấn của đời sống thủy cư miền Đông Bắc. Không chỉ là nơi mưu sinh, mặt nước Hạ Long còn là “ngôi nhà lớn” nuôi dưỡng những phong tục, tập quán và nếp sinh hoạt độc đáo còn được lưu giữ nguyên vẹn.

Khác với các làng chài ven biển miền Trung hay đồng bằng Bắc Bộ – nơi cư dân chủ yếu sống trên đất liền – nhiều thế hệ ngư dân Hạ Long từng gắn bó cả cuộc đời với những “nhà thuyền”, “nhà bè” lênh đênh trên sóng nước. Với họ, con thuyền không đơn thuần là phương tiện đánh bắt mà còn là không gian sinh hoạt, nơi diễn ra mọi sự kiện quan trọng của đời người như cưới xin, sinh nở, thờ cúng tổ tiên. Những chiếc thuyền của cùng dòng họ thường neo đậu cạnh nhau, liên kết bằng những thanh tre, thanh gỗ như một “xóm nổi” giữa biển khơi. Nơi được lựa chọn để neo đậu thường có mực nước nông, kín gió, an toàn. Những vị trí này không cố định và có thể thay đổi di chuyển vì nhiều lý do như tìm kiếm ngư trường mới, quan niệm về tín ngưỡng (khu vực cũ bị động, hà bá quấy nhiễu mà không làm ăn được…). Người dân cũng quan niệm rằng ngủ phải nằm ngang thân thuyền để tránh điều xui rủi và giúp giữ thăng
bằng khi biển động.

Về ẩm thực của cư dân vạn chài Hạ Long cũng mang sắc thái rất riêng. Do công việc đánh bắt phụ thuộc vào con nước và thời gian làm nghề mà việc bố trí bữa ăn của ngư dân cũng khác so với trên đất liền. Nếu ở đất liền thường có ba bữa thì ngư dân ở đây chỉ có hai bữa chính: sáng từ 8 đến 9 giờ và chiều từ 3 đến 4 giờ. Bởi họ thường đi đánh bắt vào chiều hôm trước và trở về vào sáng hôm sau. Với đặc thù môi trường sống xa đất liền, nguồn thức ăn chủ yếu của ngư dân được chế biến từ những sản phẩm đánh bắt được ở trên biển hay ven chân đảo trên vịnh Hạ Long. Bữa ăn của người dân vùng biển nơi đây vừa mộc mạc, đậm vị mặn mòi của biển, vừa tinh tế trong cách phối hợp nguyên liệu và gia vị. Nhiều món ăn được chế biến từ cá như gỏi cá, chả cá… đậm đà hương vị mặn nồng của biển.
Trong đời sống tinh thần, cư dân vạn chài lưu giữ nhiều phong tục gắn với tín ngưỡng sông nước. Theo quan niệm của ngư dân, Thủy thần (thường gọi là ông Sông bà Bể) là vị thần nắm giữ sức mạnh của biển cả, sóng gió, bão giông luôn chứa đựng nhiều hiểm họa nơi mà ngày ngày ngư dân phải đối mặt vì cuộc sống mưu sinh đầy tính may rủi. Chính vì vậy, mỗi khi ra khơi đánh bắt hay gia đình có việc quan trọng, ngư dân đều làm lễ cúng Thủy thần cầu mong sóng yên bể lặng, che chở vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên. Miếu thờ Thủy thần được đặt trong các khe núi hay ven chân đảo trên khắp vịnh Hạ Long. Ở đây còn có tục thờ cúng nhân thần là những người có công với dân với nước, gắn bó với vùng biển, con người nơi đây, khi hóa vẫn hiển ứng phù hộ trì. Các đền, miếu linh thiêng như đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn (phường Hồng Gai, Quảng Ninh), đền Bà Men, đền Đầu Mối (vịnh Hạ Long)... thường xuyên được ngư dân và các tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển đến hương khói, thờ phụng.
Trước mỗi dịp Tết Nguyên Đán, người dân làm những chiếc thuyền nhỏ bằng bẹ chuối thả xuống biển để tiễn năm cũ và trồng cây nêu với ý nghĩa để xua đuổi tà ma quấy nhiễu. Cây nêu của ngư dân Hạ Long được làm từ chính cây Giếng Nguộc - một trong những loại cây phổ biến trên các đảo núi của vịnh Hạ Long - được trồng trước mũi thuyền, treo lên cột buồm hoặc trước cửa nhà bè tùy theo mỗi hộ với ý nghĩa là dấu hiệu, đặc điểm riêng của từng dòng họ, gia đình để linh hồn tổ tiên nhận biết mà theo về sum họp ăn tết cùng con cháu. Vào các ngày đầu năm, chủ mỗi gia đình thường chọn một ngày tốt (ngày hoàng đạo) làm “lễ giở mũi thuyền” hay còn gọi là “lễ ra binh”, cầu “thuận buồm xuôi gió”, “xuôi chèo mát mái”, chọn hướng xuất hành hợp với tuổi của chủ nhà và không có vật nào hay thuyền khác chắn phía trước.

Độc đáo hơn cả là tục cưới trên thuyền của cư dân vạn chài Hạ Long. Tất cả các nghi lễ, từ dạm mặt, ăn hỏi, xin cưới đến lễ cưới đều được tiến hành trên thuyền. Trong ngày cưới, hàng chục con thuyền của hai họ quây tròn giữa mặt nước, tạo nên khung cảnh vừa rộn ràng vừa thiêng liêng. Nhiều nghi lễ không diễn ra bằng lời nói mà bằng những câu hát đối đáp mộc mạc của ngư dân. Chính những làn điệu ấy đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt của cộng đồng cư dân biển Hạ Long – nơi tiếng hát hòa cùng tiếng sóng, trở thành ký ức văn hóa không thể tách rời của di sản biển đảo Đông Bắc.

Bên cạnh những tập tục thói quen sinh hoạt, cư dân vạn chài Hạ Long còn luôn tuân thủ những điều kiêng kị trong sinh hoạt hàng ngày như: không bước qua hoặc giẫm chân lên các ngư cụ sẽ mất đi sự may mắn, không đánh bắt được nhiều tôm cá; phụ nữ không đứng ở phía mũi thuyền; không chèo thuyền chắn ngang thuyền người khác, khi người đó đang chuẩn bị đi đánh bắt cá; kiêng nằm dọc theo thân thuyền (tránh nằm giống như quan tài); không ngồi giữa cửa nhà: vì lý do ban thờ tổ tiên là nơi thờ phụng thiêng liêng của các gia đình được đặt ở gian chính giữa, gần cửa ra vào; không nướng ốc trong bếp sẽ lấy đi sự may mắn, ấm áp của con thuyền hoặc ngôi nhà; trong các ngày 30, mùng 1, 14,15 âm lịch hàng tháng, không xin hoặc vay lửa, dầu, muối hay nước mắm của nhau; không nên hỏi về việc mai táng người chết trước đây ở đâu (ngư dân coi nơi chôn cất người thân trong dòng họ mình là nơi yên tĩnh, kín đóa, tôn nghiêm, không muốn người ngoài biết hoặc xâm phạm); phụ nữ có thai kiêng ăn sò, ốc, hến…
Giữa nhịp sống hiện đại và sự phát triển mạnh mẽ của du lịch biển, những giá trị văn hóa phi vật thể của cư dân vạn chài trên vịnh Hạ Long vẫn âm thầm tồn tại như một phần hồn cốt của di sản. Đó không chỉ là những tập quán sinh hoạt, lễ nghi hay lời ca trên sóng nước, mà còn là kết tinh của tri thức dân gian, của sự thích nghi bền bỉ với môi trường biển đảo qua nhiều thế hệ. So với nhiều làng biển khác, văn hóa vạn chài Hạ Long mang dấu ấn đặc trưng của đời sống thủy cư – nơi con người sống cùng biển, ăn cùng biển và gửi gắm cả đời mình trên những con thuyền. Việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa ấy hôm nay không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc vùng Đông Bắc, mà còn giúp cho di sản Hạ Long thêm chiều sâu nhân văn, trở thành một “kỳ quan sống” giữa lòng biển Việt Nam.
(Bài viết tham khảo nội dung của Tài liệu hội thảo “Nhận diện, đánh giá những giá trị văn hóa tiêu biểu, độc đáo trên vịnh Hạ Long” và cuốn “Làng chài Cửa Vạn – Một nét văn hóa vịnh Hạ Long”)
Nguyễn Thị Hà Linh