Cây Đâng và màu nâu trên những cánh buồm Hạ Long
Trong ký ức của những ngư dân vùng biển Quảng Ninh, vịnh Hạ Long từng hiện diện một gam màu rất riêng, vệt màu đã đi vào hội họa và những bức ảnh tư liệu sống động, màu nâu sẫm trên những cánh buồm truyền thống căng gió trên mặt nước xanh ngọc. Sắc nâu ấy không đến từ vải công nghiệp dệt sẵn, cũng chẳng phải hóa chất nhuộm nhân tạo, mà được chắt lọc từ vỏ cây đâng, loài cây ngập mặn kiên cường cắm rễ nơi các bãi triều ven vịnh. Từ một loài cây hoang dại sinh trưởng nơi đất và biển giao hòa, người xưa bằng tri thức dân gian tinh tế đã nhận ra những giá trị thiết thực và tìm cách đưa chúng vào đời sống.

Cây đâng, hay còn gọi là đước vòi (Rhizophora stylosa Griff.), thuộc họ Đước. Đây là loài cây gỗ nhỏ đến trung bình, thân có thể cao vài mét, vỏ nhẵn, xám đến đen, nứt nẻ dần theo tuổi cây. Nhưng thứ khiến người ta nhận ra đâng từ xa chính là bộ rễ. Rễ cọc cắm sâu xuống bùn, kết hợp cùng dàn rễ chống (rễ khí sinh) dạng hình cung uốn lượn mọc từ cành buông xuống, tạo thành một giá đỡ chắc chắn giữa nền bùn cát luôn bị thủy triều xáo trộn, giúp cây đứng vững trước tác động của sóng và dòng triều.

Khả năng thích nghi đặc biệt của loài cây ngập mặn này còn thể hiện rõ qua cơ chế sinh sản vô cùng độc đáo. Quả vẫn treo trên cây mẹ trong khi mầm hình trụ phát triển ngay từ quả, có thể dài tới vài chục xăng-ti-met. Khi đạt độ trưởng thành, trụ mầm tự tách khỏi cây mẹ, nhanh chóng cắm xuống nền bùn mềm để bén rễ ngay lập tức. Nếu rơi vào lúc triều cao, trụ mầm có thể nổi và trôi dạt theo dòng nước đến những bãi bồi mới mà không lo bị thối rữa hay mất khả năng nảy mầm. Hiện tượng này được gọi là “đẻ con” ở thực vật, một cơ chế sinh sản giúp cây non có nhiều cơ hội bén rễ trong môi trường ven biển. Nếu hạt giống đơn thuần rơi xuống nước, chúng rất dễ bị dòng triều cuốn đi, trong khi đó, trụ mầm đã phát triển sẵn trên cây mẹ có thể chủ động tìm đến nền đất thích hợp để bắt đầu một vòng đời mới.

Tại vịnh Hạ Long, các loài cây đâng, sú, vẹt và mắm cùng tạo nên những quần xã rừng ngập mặn độc đáo ven chân các đảo đá vôi. Không chỉ duy trì sự cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học, hệ sinh thái này còn đóng vai trò như một "bức tường thành xanh" phòng hộ đặc biệt quan trọng. Mỗi khi thiên tai, bão lũ xảy ra, hệ thống rễ chằng chịt của cây ngập mặn trở thành tấm lá chắn kiên cố giúp tiêu giảm lực sóng, làm chậm tốc độ dòng chảy, chống sạt lở và bảo vệ an toàn cho các công trình ven biển. Đồng thời, lớp bùn tích tụ dưới gốc cây hoạt động như một bộ lọc sinh học tự nhiên, giúp hấp thụ và phân giải chất dinh dưỡng dư thừa, kim loại nặng cùng các chất ô nhiễm từ ven bờ đổ ra trước khi chảy vào vùng biển hở. Khoảng không gian an toàn dưới bộ rễ phức tạp này còn là bãi sinh sản, nơi ươm giống và kiếm ăn lý tưởng cho các loài cá con, tôm, cua cùng sinh vật nhuyễn thể, yếu tố then chốt giúp tái tạo nguồn lợi thủy sản và bảo tồn tính đa dạng sinh học phong phú cho di sản vịnh Hạ Long.
Tuy nhiên, giá trị của cây đâng không dừng lại ở vai trò sinh thái. Người dân vùng biển Hạ Long – Quảng Yên xưa đã sớm nhận ra những đặc tính quý giá của loài cây này để phục vụ đời sống. Bên cạnh việc lấy gỗ làm củi hay than, phát kiến độc đáo nhất của cư dân bản địa chính là dùng vỏ cây đâng để nhuộm vải làm buồm. Vỏ cây đâng sau khi bóc khỏi thân, được đun kỹ trong nước nhiều giờ để chiết lấy nước cốt đậm đặc. Người thợ nhuộm thường kết hợp vỏ đâng với củ nâu khai thác từ rừng trên đất liền để tạo nên một thứ dung dịch nhuộm tự nhiên sánh đậm. Nhờ chứa hàm lượng tannin (chất chát) cao, loại nước nhuộm tự nhiên này không chỉ mang lại sắc nâu đỏ đặc trưng mà còn đóng vai trò như một chất bảo vệ vải tuyệt vời. Sợi vải sau khi thấm sâu nhiều lớp nhựa đâng qua quá trình ngâm, phơi khô nhiều lần sẽ trở nên săn chắc, dẻo dai, chống chịu vượt trội trước sự ăn mòn của nước mặn và cái nắng gay gắt trên biển.
Nhờ bí quyết này, cánh buồm khi mới nhuộm xong sẽ mang màu hung đỏ sáng. Qua thời gian dầm mưa dãi nắng trên biển, lớp nhựa đâng tiếp tục oxy hóa và đổi sang màu nâu sẫm, bền bỉ cùng năm tháng. Màu nâu của những cánh buồm Hạ Long - Quảng Yên xưa chính là sự giao thoa hoàn hảo giữa tri thức dân gian tích lũy qua nhiều thế hệ và nguồn nguyên liệu bản địa sẵn có, phản ánh tư duy sống hòa hợp, nương tựa vào thiên nhiên của cộng đồng ngư dân ven biển.

Ngày nay, phương thức di chuyển trên biển đã thay đổi, những cánh buồm xưa dần nhường chỗ cho động cơ và các phương tiện hiện đại. Khi các mô hình thuyền buồm truyền thống (như thuyền ba vách) được phục dựng phục vụ du lịch, màu buồm có thể được chọn tông đỏ rực rỡ hơn để bắt mắt. Dẫu vậy, sắc nâu của những cánh buồm từng được nhuộm từ vỏ đâng vẫn được các nghệ nhân đóng thuyền lâu năm nhắc nhớ như một phần ký ức về nghề biển và đời sống của cư dân vùng Hạ Long – Quảng Yên xưa.

Có lẽ vì thế, câu chuyện về cây đâng nơi biển đảo Hạ Long luôn mang một vẻ đẹp rất đỗi gần gũi và thân quen. Chỉ cần một lần nhìn xuống bãi triều khi nước vừa rút, ngắm nhìn những bộ rễ còn đẫm nước mặn bám sâu vào đất và những trụ mầm non lặng lẽ vươn lên, ta lại thấy hiện hữu sự gắn kết tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người Hạ Long để tạo nên sắc màu rất riêng cho vùng biển này. Cây đâng xưa từng cho sắc nhuộm dệt nên những cánh buồm nâu lộng gió, thì hôm nay, những bãi đâng xanh vẫn miệt mài giữ đất, giữ bờ và vun đắp cho một hệ sinh thái tràn đầy sinh khí của Hạ Long hôm nay.
Đào Thúy