“Phép làng” giữa sóng nước Hạ Long

 

Có một thời, trên vùng nước vịnh Hạ Long, những con thuyền vừa là nơi mưu sinh, vừa là mái nhà của nhiều thế hệ cư dân. Cuộc sống gắn với con nước, mùa cá và những chuyến lênh đênh trên biển. Không có đường làng, bờ ruộng hay xóm ngõ như cư dân trên đất liền nhưng giữa mênh mông sóng nước vẫn hình thành những cộng đồng có phong tục, sinh hoạt và những quy ước chung.

Những con thuyền gắn với cuộc sống mưu sinh của cư dân vùng vịnh Hạ Long xưa (Ảnh sưu tầm).

 

Trong cộng đồng cư dân ấy có làng chài Giang Võng, Trúc Võng, hai làng chài cổ gắn với lịch sử hình thành cộng đồng cư dân vạn chài trên vịnh Hạ Long. Từ đầu thế kỷ XIX, cư dân hai làng đã được ghi nhận sinh sống ở khu vực Cửa Lục. Làng chài Giang Võng thuộc tổng An Khoái còn làng chài Trúc Võng thuộc tổng Vạn Yên, huyện Hoành Bồ, phủ Hải Đông. Từ những cộng đồng gắn với sông nước ấy, nhiều thế hệ ngư dân về sau tiếp tục mở rộng không gian sinh sống ra vịnh Hạ Long, hình thành các làng chài thủy cư trên vịnh.

Nội dung Hương ước năm 1942 của hai làng chài được ghi chép lại trong sách chuyên khảo “Di sản văn hóa - làng chài vịnh Hạ Long” (Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Quảng Ninh xuất bản năm 2010, ThS. Cao Đức Bình và ThS. Hoàng Quốc Thái đồng chủ biên) giúp chúng ta hiểu rõ nét hơn về đời sống và cách tổ chức xã hội của người vạn chài xưa.

Lễ tế và lễ rước nước trong lễ hội đình Giang Võng (đình Cái Đá), nơi gắn kết đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng của cư dân vạn chài Hạ Long xưa (ảnh sưu tầm).

Điểm đặc biệt nhất của cư dân vạn chài Hạ Long là trạng thái "hoàn toàn không có đất đai". Hương ước ghi rõ hai làng không có công điền, công thổ, không có ruộng nương; làng cũng không có chùa riêng mà chỉ dựng một ngôi đình làm nhờ bên bờ sông Cái Lân (Điều 94, 95, Hương ước làng Trúc Võng).

Làng chài Cửa Vạn xưa – không gian từng bó với nhiều thế hệ dân thủy cư trên vịnh Hạ Long (ảnh sưu tầm).

Mặc dù sống lênh đênh trên mạn thuyền, đình làng Cái Đá (đình Giang Võng) vẫn là nơi gửi gắm tâm linh và là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của cư dân vạn chài. Việc duy trì nhang khói vào các ngày sóc vọng (ngày 01 và 15 âm lịch hằng tháng) do người phụ trách chuẩn bị trầu, rượu, hương đăng bằng nguồn kinh phí đóng góp công khai của dân làng (Điều 94, Trúc Võng). Đặc biệt, khi làng có việc công ích cần ngân sách, Hương hội (những người phụ trách việc chung của làng) được phép "bán thứ vị" (bán chỗ ngồi, hàm phẩm danh dự trong đình) để lấy tiền chi dùng nhưng bắt buộc phải họp bàn dân chủ, định giá minh bạch và xin phép quan sở tại phê duyệt (Điều 84, 85, Trúc Võng). Đây là một cơ chế tạo nguồn tài chính công cực kỳ linh hoạt và minh bạch của người vạn chài.

Dù không có xóm ngõ cố định, cuộc sống của người vạn chài không hề tùy tiện hay tự phát mà được sắp xếp rất nề nếp thông qua tổ chức Giáp, được hiểu là những nhóm hộ gia đình neo đậu gần nhau hoặc cùng lứa tuổi. Mỗi khi tập trung về đình làng, vị trí chỗ ngồi của từng người ("ngôi thứ đình trung") được phân định rõ ràng dựa theo chức vị, bằng cấp hay tuổi tác và có bảng ghi chép công khai để ai cũng biết chỗ của mình (Điều 83, Hương ước làng Trúc Võng). 

Từ tổ chức Giáp này, các công việc chung của làng được chia gánh rất gọn gàng. Việc chuẩn bị lễ vật, dọn dẹp (đăng cai) hay đứng ra làm lễ (tế đám) được xoay vòng lần lượt theo tuổi tác của từng người (Điều 96, 97, Hương ước làng Trúc Võng). Cách làm này vừa công bằng vừa tạo sự linh hoạt; người nào đến lượt gánh việc làng nhưng đúng lúc phải đi biển đánh cá xa bờ có thể nộp một khoản tiền lệ để làng nhờ người làm thay, giúp cho công việc của làng không bao giờ bị dở dang. Đến ngày lễ lớn, từ người làm chủ tế, người xướng lễ cho tới lực lượng lo việc chạy ngoài đều được phân công rõ ràng (Điều 100, Hương ước làng Trúc Võng), giúp các nghi lễ cộng đồng diễn ra trang trọng, trật tự .

Đằng sau những quy định trị an và nghi lễ khắt khe, Hương ước 1942 của hai làng chài còn chứa đựng chiều sâu nhân văn sâu sắc. Dù thu nhập từ nghề biển rất bấp bênh, làng vẫn trích lập Quỹ cứu tế cộng đồng hàng năm. Khi trong làng có người nghèo khổ, hoạn nạn hay neo đơn, làng sẽ trích ngay một khoản tiền từ quỹ này để giúp đỡ (Điều 106, Hương ước làng Trúc Võng). Bên cạnh đó, các lệ tục như khao vọng (tiền làm cỗ hoặc nộp quỹ khi có việc mừng) hay tiền vọng/nhập tịch (khoản phí đóng góp để ghi tên vào sổ làng) cũng được công khai bằng bảng giá rõ ràng, tránh tình trạng ép buộc hay hạch sách dân nghèo.

Những điều ghi trong hương ước không phải là câu chuyện riêng của cư dân trên vịnh. Làng quê trên đất liền cũng từng có lệ làng, quy ước và những sinh hoạt chung. Nhưng với làng chài Giang Võng, Trúc Võng, những quy ước ấy được thực hiện trong một hoàn cảnh rất riêng: không có ruộng nương, không có xóm ngõ cố định nhưng vẫn duy trì được đời sống cộng đồng. Đó chính là nét riêng đáng chú ý của cư dân thủy cư trên vịnh Hạ Long.

Những con thuyền từng gắn bó với đời sống và sinh kế của cư dân làng chài Hạ Long (ảnh sưu tầm).

 

Từ năm 2014, khi cư dân vạn chài Hạ Long từng bước lên bờ định cư, điều kiện sống, học tập và làm việc của bà con đã được cải thiện rõ rệt. Những con thuyền lênh đênh từng là mái nhà của bao thế hệ giờ đây đã lùi vào ký ức. Nhưng ký ức vạn chài Hạ Long không chỉ dừng lại ở hình ảnh những con thuyền hay những mùa cá bội thu mà còn nằm ở tính tự quản và tinh thần đùm bọc lẫn nhau của một cộng đồng từng gắn bó giữa sóng nước.

Việc sưu tầm và giải mã những trang Hương ước năm 1942 của làng Giang Võng và Trúc Võng không chỉ giúp chúng ta chiều sâu lịch sử - văn hóa của vùng đất Cửa Lục mà còn góp phần tôn vinh, làm giàu thêm giá trị văn hóa phi vật thể của di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Hằng Nga