Những con thuyền nan chở ký ức một miền di sản
Đối với cư dân vạn chài Hạ Long, con thuyền không chỉ là phương tiện đi lại, đánh bắt hải sản mà còn là mái nhà, là tài sản quý giá gắn bó với cuộc sống của mỗi gia đình trên mặt vịnh. Đằng sau những chiếc thuyền nan mộc mạc nhưng bền chắc là cả một hệ thống tri thức dân gian được người xưa đúc kết qua nhiều thế hệ, từ việc lựa chọn nguyên liệu, chế tác đến hoàn thiện thuyền. Những tri thức dân gian ấy không chỉ phục vụ đời sống mưu sinh mà còn phản ánh sự khéo léo, óc sáng tạo và khả năng thích ứng của cư dân vùng biển, trở thành một phần ký ức văn hóa của cộng đồng vạn chài Hạ Long.

Để đáp ứng nhu cầu đi lại và đánh bắt của cư dân vạn chài vùng biển Quảng Ninh, trong đó có ngư dân vạn chài Hạ Long - từ lâu đã hình thành đội ngũ những người thợ chuyên làm thuyền nan truyền thống ở các vùng ven biển. Tiêu biểu trong số đó là làng nghề sản xuất ngư cụ truyền thống Hưng Học, xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (nay thuộc phường Phong Cốc, tỉnh Quảng Ninh). Từ những cây tre, cây nứa quen thuộc cùng kinh nghiệm được truyền qua nhiều thế hệ, những người thợ tài hoa nơi đây đã làm nên những con thuyền bền chắc, đồng hành cùng ngư dân trên khắp các vùng biển của tỉnh, trong đó có vịnh Hạ Long.
Mỗi chiếc thuyền nan được làm qua nhiều công đoạn, từ chọn nguyên liệu, pha nan, đan mê đến tạo dáng và hoàn thiện. Không có máy móc hiện đại hay bản vẽ sẵn, người thợ chủ yếu dựa vào đôi bàn tay, sự khéo léo và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm để tạo nên một con thuyền đủ sức đồng hành cùng người dân giữa sóng gió.
Nguyên liệu chính để làm thuyền là tre, nứa, kết hợp với dây mây, dây đồng, dây thép, gỗ, đinh, nhựa đường và một số vật liệu chống thấm. Việc chọn nguyên liệu được thực hiện rất cẩn thận. Tre, nứa phải là loại bánh tẻ, thân thẳng, cật dày, không bị sâu mọt hay cháy cật. Với nứa, người thợ thường chọn những cây có gốc và ngọn tương đối đều nhau, phần ngọn nở để khi chẻ thành nan không bị giòn, gãy.
Người thợ có nhiều kinh nghiệm trong việc nhận biết chất lượng tre, nứa. Chỉ cần búng nhẹ vào thân tre, họ đã có thể phân biệt được độ già của cây qua âm thanh. Nếu phát ra tiếng "bồm bộp" thì đó là tre còn non; còn tiếng "đành đạch" là tre đã đủ tuổi để làm thuyền. Tre rừng có lóng dài, thân thẳng thường được dùng để đan mê, còn cạp thuyền lại phải chọn tre nhà, nhất là loại tre đực có ruột nhỏ và độ cong đều. Những kinh nghiệm ấy được tích lũy từ thực tiễn lao động và truyền lại qua nhiều thế hệ người làm nghề.
Dụng cụ làm thuyền khá đơn giản, chủ yếu là các loại dao dùng để chặt tre, pha nan và vót nan. Khi đóng một chiếc thuyền mới, người thợ sử dụng thêm búa, vồ, cưa, khoan, dùi cùng đinh và một số vật liệu phụ trợ khác. Tuy không cầu kỳ về dụng cụ nhưng mỗi thao tác đều đòi hỏi sự chính xác và đôi bàn tay khéo léo của người thợ.
Sau khi chọn được nguyên liệu, tre được chẻ thành từng thanh nan rồi vót cẩn thận. Thuyền nan có bốn loại nan gồm nan dọc, nan ngang, nan mũi và nan lái trong đó nan dọc giữ vai trò quan trọng nhất vì tạo nên phần xương sống của chiếc thuyền. Với người thợ lành nghề, chỉ cần đo chuẩn thanh nan đầu tiên, chiều dài của các nan còn lại có thể ước lượng bằng mắt.
Đan mê là công đoạn quan trọng nhất trong quá trình làm thuyền. Người thợ xếp các nan dọc theo đúng thứ tự rồi lần lượt đan các nan ngang theo lối "đè hai, bắt hai". Cứ như vậy, các nan ngang lần lượt được đan kín mặt mê, sau đó người thợ tiếp tục đan phần mũi và phần lái để tạo thành tấm mê hoàn chỉnh. Công việc tưởng như đơn giản nhưng đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ bởi chỉ cần một thanh nan không đều hoặc một mối đan chưa chặt cũng có thể ảnh hưởng đến độ bền của cả con thuyền.
Sau khi đan xong, mê thuyền được úp xuống đem phơi nắng. Khi các thanh nan co lại, người thợ tiếp tục dồn chặt để các nan khít vào nhau. Công đoạn này được gọi là dích nan, giúp mặt mê chắc chắn hơn trước khi chuyển sang tạo dáng thân thuyền.

Khi tấm mê đã hoàn thành, người thợ bắt đầu tạo dáng cho thân thuyền bằng công đoạn cạp. Đây là bước tạo nên hình hài của chiếc thuyền - phương tiện sẽ đồng hành cùng cư dân vạn chài Hạ Long trong những chuyến mưu sinh trên vịnh.
Cạp thuyền được làm từ tre già có đường kính khoảng 8-10 cm, tùy theo kích cỡ của từng loại thuyền. Người thợ đào một hố đất có hình dáng giống lòng thuyền, gọi là lò cạp, rồi đặt mê lên để tạo dáng. Trước khi cạp, mê được tưới nước để các thanh tre mềm và dễ uốn hơn. Sau đó, người thợ dùng những hòn đá nặng kết hợp với lực ép của chân để mê ôm sát khuôn, tạo nên dáng cong cân đối cho thân thuyền.
Khi buộc cạp vào mê thuyền, người thợ phải buộc từ giữa thuyền rồi lan dần sang hai bên; khoảng cách giữa các nút buộc cũng được tính toán phù hợp để bảo đảm độ chắc chắn. Trong quá trình buộc, cạp thuyền được nắn tròn để ôm sát mê, giúp thân thuyền cân đối và chắc chắn hơn. Người làm nghề còn truyền nhau một điều kiêng kỵ là không buộc mối lạt ở chính giữa mũi thuyền. Mỗi thao tác đều được thực hiện cẩn trọng bởi độ bền của con thuyền cũng chính là sự an toàn của những người gắn bó với biển.
Sau khi cạp xong, người thợ dùng phân trâu tươi pha sền sệt, trát đều cả bên trong và bên ngoài mê thuyền. Theo kinh nghiệm của những người thợ, công đoạn này giúp bề mặt thuyền kín hơn, khi sơn mê sẽ không bị rỗ hay rò rỉ nước.

Sau lớp bó cốt, người thợ tiến hành sơn mê để tăng độ bền và chống thấm cho thuyền. Trước đây, lớp sơn mê được làm hoàn toàn từ các nguyên liệu tự nhiên. Người thợ nghiền bột vỏ cây sòi, củ nâu và củ vẹt rồi trộn theo tỷ lệ phù hợp để tạo thành hỗn hợp sơn, sau đó quét đều lên thân thuyền. Khi lớp sơn khô, họ tiếp tục phủ ba lớp nhựa thông nhằm tăng độ bền, tạo độ bóng và nâng cao khả năng chống thấm.
Về sau, khi nhựa đường trở nên phổ biến, vật liệu này dần được sử dụng để thay thế phương pháp chống thấm truyền thống. Người thợ đun nhựa đường cho đến khi chảy thành chất lỏng rồi quét đều lên đáy và thân thuyền. Lớp nhựa này giúp tăng khả năng chống thấm, bảo vệ thân thuyền trước tác động thường xuyên của nước và điều kiện khắc nghiệt trên biển, góp phần kéo dài tuổi thọ của thuyền.

Sau khi hoàn thành các lớp chống thấm, người thợ đưa thuyền ra phơi dưới nắng để lớp sơn hoặc nhựa khô hoàn toàn và bám chắc vào thân thuyền. Khi thuyền đã đạt độ khô cần thiết, người thợ tiếp tục lắp thang thuyền, đặt sạp lòng và hoàn thiện những chi tiết cuối cùng. Mỗi chiếc thuyền đều là kết quả của sự khéo léo, tỉ mỉ cùng đôi bàn tay lành nghề của người thợ. Chính sự cẩn trọng trong từng công đoạn đã tạo nên những chiếc thuyền nan bền chắc, từng đồng hành với nhiều thế hệ cư dân vạn chài Hạ Long trong những chuyến ra khơi, đánh bắt hải sản và cuộc sống thường nhật trên mặt vịnh.
Để làm nên những chiếc thuyền ấy, người xưa không chỉ dựa vào sự khéo léo mà còn đúc kết nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình lao động. Những tri thức ấy phản ánh sự quan sát tinh tế, óc sáng tạo và khả năng thích ứng của cư dân vùng biển với môi trường sông nước. Không được ghi chép thành sách, các kinh nghiệm làm thuyền chủ yếu được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua lời dạy của cha ông, qua những lần cùng nhau lao động và qua chính thực tiễn cuộc sống.
Đối với cư dân vạn chài Hạ Long, mỗi chiếc thuyền hoàn thành cũng đồng nghĩa với việc bắt đầu một hành trình mới trên biển. Vì thế, ký ức về con thuyền không chỉ gắn với tre, nứa hay những mối đan bền chặt mà còn gắn với cả một nếp sống từng hiện hữu trên vịnh Hạ Long.
Ngày nay, những làng chài nổi đã lùi vào ký ức, những chiếc thuyền nan cũng dần nhường chỗ cho các phương tiện hiện đại. Tuy nhiên, những kinh nghiệm làm thuyền truyền thống vẫn là một phần ký ức quý giá của cộng đồng cư dân vạn chài Hạ Long, phản ánh tri thức dân gian, sự sáng tạo và khả năng thích ứng của con người với môi trường biển đảo. Mỗi chiếc thuyền không chỉ chuyên chở con người và hải sản mà còn chuyên chở những giá trị văn hóa được vun đắp qua nhiều thế hệ. Việc tìm hiểu và lưu giữ những tri thức ấy không chỉ góp phần làm sáng rõ đời sống của cư dân vạn chài Hạ Long mà còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống gắn với Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
(Bài viết có tham khảo thông tin của sách chuyên khảo “Di sản văn hóa làng chài Cửa Vạn vịnh Hạ Long”- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh xuất bản năm 2010).
Hằng Nga