Phát triển kinh tế xanh gắn với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, logistic biển và các ngành kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh (Phần kết)

NCS.ThS Phạm Đình Huỳnh, 

Phó Trưởng Ban quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long – Yên Tử

3. Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển các ngành kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh

3.1. Giải pháp:

Để hướng tới mục tiêu trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và ven biển đạt trung bình 10% trở lên; Đến năm 2030, kinh tế thuần biển chiếm khoảng 25% GRDP; kinh tế biển và ven biển chiếm khoảng 85% GRDP, các địa phương ven biển đóng góp trên 90% ngân sách của tỉnh Quảng Ninh; Đến năm 2045, Quảng Ninh trở thành một trong những hình mẫu phát triển kinh tế biển xanh, một địa điểm du lịch biển có danh tiếng trên thế giới với đời sống dân cư cao, cảnh quan đẹp, hệ sinh thái biển được bảo tồn; hài hòa kinh tế với văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh, một nơi đáng sống toàn cầu, một số giải pháp cần được tập trung nghiên cứu, triển khai thực hiện, như:

Thứ nhất, giải pháp về cơ chế chính sách: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để phát triển kinh tế biển Quảng Ninh trở thành động lực của vùng đồng bằng Sông Hồng; thúc đẩy quản lý tổng hợp, thống nhất, có sự gắn kết hài hòa, đồng bộ giữa bảo tồn và phát triển các vùng đất liền, vùng ven bờ và vùng biển khơi. Khuyến khích thử nghiệm các thể chế, mô hình áp dụng để Quảng Ninh trở thành điểm trình diễn phát triển kinh tế biển; tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo.

Thứ hai, giải pháp về huy động và sử dụng vốn đầu tư: Nghiên cứu hình thành định chế tài chính, cơ chế chính sách để chủ động cân đối nguồn lực thực hiện các dự án, nhiệm vụ ưu tiên cho phát triển kinh tế biển. Không bố trí vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước vào các dự án mà các thành phần kinh tế khác có thể tham gia. Xây dựng cơ chế chính sách đột phá để thu hút các nhà đầu tư chiến lược có khả năng dẫn dắt, hình thành hệ sinh thái các ngành kinh tế có lợi thế, đặc biệt là trong lĩnh vực mới hoặc dự báo sẽ xuất hiện (mới nổi, kinh tế biển mới). Ưu tiên chọn lọc thu hút những dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao có phương thức quản trị hiện đại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, có tác động lan tỏa...; lấy hiệu quả, giá trị gia tăng cao và công nghệ sử dụng làm thước đo chủ yếu, quan trọng nhất, đi cùng với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.

Thứ ba, giải pháp về phát triển hạ tầng kinh tế biển: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện, đồng bộ kết cấu hạ tầng cảng biển. Thúc đẩy chuyển đổi số, thực hiện nâng cấp mô hình cảng thông minh trên cơ sở tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ, áp dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0. Khuyến khích đầu tư và tổ chức vận hành cảng theo các tiêu chí của cảng xanh, sử dụng năng lượng tái tạo trong khu vực cảng, thực hành giảm phát thải khí nhà kính. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng logistics gắn với cảng biển, bao gồm vận tải, kho bãi, hệ thống phân phối, cảng cạn; thực hiện việc đầu tư tạo luồng hàng vào cảng, đường kết nối cảng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Phát triển một số trục đường bộ kết nối đến các đầu mối vận tải lớn, các khu công nghiệp, khu kinh tế, tạo thành không gian phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thúc đẩy giao lưu thương mại, đầu tư và phát triển giữa Quảng Ninh với các tỉnh trong vùng đồng bằng Sông Hồng. Nghiên cứu thực hiện lộ trình chuyển đổi, thay thế dần các nguồn điện sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng tái tạo, tuân thủ các tiêu chuẩn giảm phát thải nghiêm ngặt. Có chính sách khuyến khích thu hút các nhà đầu tư vào hạ tầng năng lượng tái tạo, đặc biệt là các dự án trang trại điện gió ngoài khơi. Phát triển kết cấu hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, hạ tầng dữ liệu một cách đồng bộ phục vụ kinh tế số và xã hội số; tăng cường năng lực tiếp cận, tận dụng tối đa thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, góp phần quản lý bền vững và bảo vệ hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo. Khuyến khích đầu tư phát triển các công nghệ, tiêu chuẩn, ứng dụng về Internet thế hệ mới, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vệ tinh tầm thấp, công nghệ mạng viễn thông thế hệ tiếp theo. Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ, đồng thời có chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp viễn thông đầu tư nâng cấp hạ tầng viễn thông ở các vùng biển đảo và ở các huyện đảo nhằm thúc đẩy cơ hội tiếp cận với nền kinh tế số, xã hội số. Thu hút đầu tư hệ thống khách sạn quy mô lớn, các tổ hợp resorts đẳng cấp, được quản lý bởi các thương hiệu hàng đầu thế giới trong ngành khách sạn lưu trú; khuyến khích nâng cấp hệ thống nhà hàng, quán ăn đáp ứng tiêu chuẩn ẩm thực chất lượng của du khách hạng sang, thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm mua sắm chất lượng cao.  Đầu tư hoàn thiện hệ thống các cảng tàu khách quốc tế tại Hạ Long để tăng khả năng kết nối du khách đến bằng đường biển. Tăng cường đầu tư và nâng cấp cơ sở hạ tầng ngành thủy sản, hướng tới phát triển bền vững; nâng cấp (không mở rộng), hiện đại hoá các cảng cá, bến cá; nâng cấp, nạo vét các luồng, xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão an toàn cho tàu cá. Hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ nhằm tăng cường năng lực chế biến thuỷ sản. Phát triển hạ tầng các đô thị bảo đảm đạt các tiêu chí tương ứng với từng loại đô thị theo mô hình đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phù hợp với quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thứ tư, giải pháp về bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu: Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng cơ sở giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển. Chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái biển, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.  Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn...

Thứ năm, giải pháp về đào tạo, phát triển, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực biển: Thực hiện các chương trình hợp tác, liên kết với các cơ sở đào tạo, trường đại học, viện nghiên cứu nước ngoài có uy tín cao trong các lĩnh vực kinh tế biển ở các nước tiên tế để hợp tác đào tạo nhân lực theo nhu cầu và dựa trên các chuẩn mực, tiêu chuẩn kiểm định đào tạo của khu vực và quốc tế. Có chính sách mời gọi, thu hút các giáo sư, nhà khoa học, nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia đầu ngành trên thế giới về kinh tế biển tham gia làm việc, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phổ biến tri thức; mời tham gia chủ trì nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ biển. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực các ngành ưu tiên kinh tế biển, trong đó có hàng hải, thuỷ sản, năng lượng tái tạo, du lịch, khoa học, công nghệ biển.

Thứ sáu, giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về kinh tế biển: tăng cường tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức của mọi người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư, du khách khi đến địa phương về vai trò, ý nghĩa của biển và đại dương; trách nhiệm chung tay bảo tồn các tài nguyên, gìn giữ và phát huy các giá trị của biển và đại dương, bảo vệ các hệ sinh thái biển. Thường xuyên tổ chức, thực hiện lồng ghép các khóa đào tạo, nâng cao kiến thức, hiểu biết cho học sinh, sinh viên về giá trị của biển, đại dương; trang bị kỹ năng sinh tồn, kiến thức và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với nước biển dâng, phòng, tránh thiên tai.

Thứ bảy, giải pháp về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số: Ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển, thiết bị tự vận hành ngầm,…; hình thành các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Tăng cường năng lực tiếp cận, ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm khai thác hiệu quả các ngành, lĩnh vực kinh tế biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt phát huy tối đa thành tựu khoa học, công nghệ biển tiên tiến đạt trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đứng trong tốp đầu các nước thuộc khối ASEAN.

Thứ tám, giải pháp về bảo vệ quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển: Không ngừng củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân khu vực biển; bảo đảm năng lực xử lý tốt các tình huống trên biển; kiên trì xây dựng và duy trì môi trường hoà bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển, tạo cơ sở cho việc khai thác và sử dụng biển an toàn, hiệu quả. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước; tổ chức tốt các hoạt động cứu nạn, cứu hộ, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế biển.

3.2. Một số kiến nghị cơ chế, chính sách đột phá 

- Nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền: Thí điểm cơ chế tài chính thực hiện biện pháp giảm phát thải khí nhà kính tại Quảng Ninh theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon.

- Thí điểm giao địa phương:

a) Áp dụng đầu tư theo phương thức: (i) Đối tác công tư (PPP) đối với dự án công viên cây xanh đô thị; (ii) Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) đối với dự án đầu tư xây dựng nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa các công trình giao thông, đô thị hiện hữu; (iii) Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) với phương thức nhà nước thanh toán cho nhà đầu tư bằng quỹ đất hoặc quỹ đất kết hợp ngân sách trên địa bàn Quảng Ninh đối với các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.

b) Thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác minh nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất… để thu hồi đất thực hiện các dự án dịch vụ logistics và phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng khác; Xác định, cập nhật đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm, có văn bản xin ý kiến thống nhất với cơ quan có thẩm quyền tại trung ương trước khi thông báo cho tổ chức, cá nhân hoàn thiện hồ sơ xin giao khu vực biển theo quy định.

c) Thực hiện các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tổ chức khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ chức trung gian hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang thực hiện các dự án, nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển để phát triển kinh tế biển: (i) Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 5 năm từ thời điểm phát sinh thuế thu nhập phải nộp đối với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; (ii) Miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với thu nhập từ lương, tiền công đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo đang làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức nêu trên.

4. Kết luận:

Bối cảnh thế giới và trong nước vừa tạo ra nhiều cơ hội, nhưng đồng thời cũng kèm theo không ít thách thức đối với phát triển bền vững kinh tế biển của tỉnh Quảng Ninh, trong đó có vấn đề hợp tác phát triển, hình thành và duy trì mô hình ”kinh tế biển xanh”....Trong bối cảnh như vậy, để bảo đảm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững, lâu dài đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đồng thời khai phá sử dụng được các tiềm năng từ biển Quảng Ninh, cần thiết phải có các giải pháp căn cơ gắn phát triển kinh tế với tăng cường các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên biển, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và (ii) Nâng cấp vị thế các ngành nghề trong chuỗi giá trị và chuyển đổi cơ cấu kinh tế dựa trên việc khuyến khích áp dụng khoa học - công nghệ hiện đại, mở rộng các ngành nghề kinh tế biển mới; duy trì và nâng cao vị thế của kinh tế biển và ven biển trong nền kinh tế của tỉnh, trực tiếp thực hiện thành công nhiệm vụ mà Nghị quyết 36-NQ/TƯ (10/2018) đã xác định: “xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 A. Tài liệu trong nước 

1. Báo cáo của nhóm Sáng kiến Việt Nam (2021).

2. Bộ kế hoạch đầu tư (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020, Thủ Tướng Chính Phủ. 

3. Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2017), Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. 

4. Dư Văn Toán (2009), Về một cách tiếp cận bảo vệ tài nguyên môi trường biển mới ở vùng biển Việt Nam: phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững, Hội thảo quốc gia Môi trường và PTBV trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội. 

5. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2022 – 2023.

6. Nguyễn Chu Hồi (2007), Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo Quốc Gia.

7. Nghị quyết số 44/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng, đẩy mạnh xã hội hoá, chú trọng phát triển kinh tế biển; 

8. Quốc Hội Việt Nam (2012), Luật số 18/2012/QH13 của Quốc hội : LUẬT BIỂN VIỆT NAM. 

9. Trương Minh Dục (2016), Phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền vùng biển quốc gia, Tạp chí Kinh tế và quản lý, tháng 1/2016. 

10. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc ban hành quy chế quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, số 06/2019/QĐ-UBND ngày 29/01/2019. 

11. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc phê duyệt Đề án tổng thể về quản lý, phát triển sản phẩm du lịch biển đảo vịnh Hạ Long - vịnh Bái Tử Long - Vân Đồn - Cô Tô, số 4686/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2020. 

12. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, số 4839/QĐ-UBND ngày 29/12/2020. 

13. Dương Quỳnh Phương, Lê Thanh Huệ, Di sản thiên nhiên - thế mạnh để phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM, số 2 (80)/2016, tr.109 – 118. 

B. Tài liệu quốc tế 

1. Báo cáo thường niên năm 2023 của WB với chủ đề “healthy ocean-healthy economies - healthy communities: đại dương khỏe mạnh - nền kinh tế khỏe mạnh - cộng đồng khỏe mạnh”. 

2. Malcolm Gillis và các tác giả: Kinh tế học của sự phát triển. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Trung tâm thông tin tư liệu 1990 

3. Anne Maria Eikeset, A.B.M., Brynhildur Davíðsdóttire, Dane H. Klinger, Simon A. Levinb, Elena Rovenskayac,d, Nils Chr. Stensetha (2017), What is blue growth? The semantics of “Sustainable Development” of marine environments, Marine Policy, 2017. 87: p. 177-179. 

4. Brian Clark Howard (2018), Blue growth: Stakeholder perspectives. Marine Policy, 87 (2018): p. 375-377. 

5. Joseph F. Hair JR (2009), Multivariate data analysis, 7th Edition, Pearson New International Edition. 

6. UNESCO (2008), A handbook for Measuring the Progress and Outcomes of Integrated Coastal and Ocean Management.