Phát triển kinh tế xanh gắn với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, logistic biển và các ngành kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh(Phần 2)

NCS.ThS Phạm Đình Huỳnh, 

Phó Trưởng Ban quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long – Yên Tử

 

2.4. Nhận diện mô hình phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh:

a) Thực trạng phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển các ngành kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh: 

Quảng Ninh là tỉnh duy nhất có biên giới cả trên biển và trên đất liền với Trung Quốc: đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km, đường bờ biển dài 250 km, với ngư trường trên 6.100 km2; 40.000 ha bãi triều và trên 20.000 ha eo vịnh. Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới”; 2.077 hòn đảo, chiếm hơn 2/3 tổng số đảo cả nước, trong đó có một số đảo lớn có dân cư trú. Có 2/12 huyện đảo của cả nước là Đặc khu Vân Đồn và Đặc khu Cô Tô. Ven biển và các đảo có nhiều bãi biển tự nhiên rất đẹp như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu… Do vậy, Quảng Ninh sở hữu đa dạng các nguồn tài nguyên biển đảo độc đáo thuận lợi cho phát triển nhiều ngành kinh tế biển (du lịch biển, thủy sản, công nghiệp, cảng biển) và vị thế an ninh quốc phòng rất quan trọng. Trong thời gian qua, Quảng Ninh đã tận dụng tốt những lợi thế phát triển các lĩnh vực kinh tế biển. Giá trị đóng góp từ phát triển kinh tế thuần biển vào GRDP của tỉnh trong thời kỳ 2011 - 2020 khoảng 19 - 20%. Tốc độ tăng trưởng trong thời kỳ này cũng trên 9%, tạo sức bật to lớn cho phát triển kinh tế của các địa phương ven biển trong Tỉnh. Nền kinh tế Quảng Ninh chủ yếu do sự đóng góp của các địa phương ven biển tạo ra và đóng góp tới 95% nguồn thu ngân sách toàn tỉnh. Bên cạnh đó, để hiện thực hóa các chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế biển của Trung ương như Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Luật Biển Việt Nam số 18/2012/QH13 ngày 21/6/2012…, tỉnh đã ban hành nhiều văn bản liên quan. Sự đúng đắn, kịp thời của các văn bản này đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh hiệu quả. Trong giai đoạn 2025 - 2030, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; trong đó, mục tiêu tổng quát là xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, cùng với mục tiêu cụ thể đóng góp của các  ngành kinh tế biển vào GRDP của tỉnh đến năm 2030 đạt 25%. Bên cạnh đó, hệ thống các đô thị lớn với các cơ sở công nghiệp, cảng biển quan trọng tập trung tại khu ven biển tạo thành vùng động lực chính thúc đẩy kinh tế Quảng Ninh phát triển theo hướng dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao. Kết cấu hạ tầng ven biển đã và đang được đầu tư đồng bộ: cảng hàng không quốc tế Vân Đồn (2018), đường cao tốc Hạ Long - Hà Nội - Hải Phòng, tuyến đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả - Vân Đồn - Móng Cái, cảng Cái Lân, hệ thống đường bộ, giao thông thủy nội bộ…Các ngành kinh tế biển có tốc độ tăng trưởng, phát triển khá nhanh và tương đối ổn định. Cơ sở hạ tầng du lịch có sự phát triển, tăng nhanh về số lượng và nâng cao về chất lượng dịch vụ với 01 điểm vui chơi giải trí; 11 bãi tắm du lịch đang hoạt động. Thành lập mới 01 khu du lịch cấp quốc gia; 03 khu du lịch biển đảo cấp tỉnh. Nhiều loại hình du lịch chất lượng, đặc sắc, đa dạng, có giá trị gia tăng cao về du lịch biển đảo gắn với việc phát huy giá trị di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.  Một số thị trường khách quốc tế tăng mạnh như: Trung Quốc tăng 80%, Mỹ tăng 25%, Anh tăng 36%, Tây Ban Nha tăng 40%, Canada tăng 25%...Trong giai đoạn 2018 - 2023, ngành thủy sản Quảng Ninh đã có những bước phát triển mạnh mẽ: Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành thủy sản hàng năm đạt trung bình từ 7,18% và đã có chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản lượng từ khai thác sang nuôi trồng[1]; giá trị gia tăng thuỷ sản theo giá cố định tăng gấp 1,32 lần, chiếm trên 50% giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh[2]; số lượng tàu cá ven bờ giảm bình quân giảm 7,6%/năm; giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho trên 37,9 ngàn người (chiếm 33,7% số lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp); giá trị xuất khẩu thủy sản tăng gấp 1,4 lần[3]; chủ động sản xuất giống đối tượng nuôi chủ lực (tôm, cua, cá biển) tăng 1,8 lần so với năm 2018; diện tích, sản lượng nuôi tôm công nghiệp lớn nhất từ trước đến nay[4]. Giá trị gia tăng (VA) ngành thuỷ sản có xu thế tăng khoảng 6-8% qua các năm, trong giai đoạn 2018-2023, chiếm khoảng 20,1% trong giá trị gia tăng (VA) kinh tế biển, chiếm 3,58% trong GRDP. Phê duyệt Quy hoạch và hoàn thiện hồ sơ thành lập khu bảo tồn biển Cô Tô, Đảo Trần; nghiên cứu thực hiện quy hoạch thành lập khu bảo tồn vịnh Hạ Long; Thực hiện khoanh vùng 13 khu bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản quý hiếm, đặc thù có giá trị kinh tế và dinh dưỡng rất cao trên địa bàn tỉnh. Năm 2022 giá trị gia tăng (giá hiện hành) công nghiệp ven biển là: 3.760 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,9% trong giá trị gia tăng VA của ngành kinh tế biển, bằng 86,79% so với năm 2018; đóng góp vào thu ngân sách (thu nội địa) của công nghiệp ven biển trong giai đoạn 2019-2022 là 11.978 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40,59% trong tổng thu nội địa của các ngành kinh tế biển; thu hút 61 dự án, điều chỉnh tăng vốn đầu tư 32 dự án với vốn đầu tư đạt trên 194.000 tỷ đồng (tương đương trên 8,178 tỷ USD) trong đó vốn FDI đạt trên 6 tỷ USD. Giai đoạn từ năm 2019-2023: tổng doanh thu dịch vụ cảng biển đạt 14.840,8 tỷ đồng[5], đạt 59,36% kế hoạch, tăng bình quân (05 năm) đạt 17,4%/năm, sát so với mục tiêu của kế hoạch (dự kiến đạt mục tiêu kế hoạch 17,5%); Tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng giai đoạn khoảng 627,7 triệu tấn[6]; bình quân đạt 124,1 triệu tấn/năm, bằng 101,34% kế hoạch, vượt mục tiêu mục tiêu đến 2025 (124,1/122,5 triệu tấn/năm); Tổng lưu lượng hành khách vận tải biển (khách du lịch qua cảng) đến hết năm 2023 đạt 170.355 lượt khách[7], đạt 68,14% kế hoạch. Giai đoạn 2019-2024, tỷ trọng đóng góp trong GRDP của các tài nguyên khoáng sản biển khác rất nhỏ, chủ yếu là khai thác cát biển tại Vân Đồn và Móng Cái. Thu ngân sách từ khai thác tài nguyên khoáng sản biển (cát biển) trong giai đoạn từ 2019-2022 là 166,5 tỷ đồng. Hiện tại, toàn tỉnh có 07 nhà máy nhiệt điện và 01 nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đang vận hành với công suất lắp máy 5.865,6MW (07 nhà máy nhiệt điện than với tổng công suất 5.862MW và 01 nhà máy thủy điện với tổng công suất 3,6MW), sản lượng điện sản xuất dao động từ 36-38 tỷ kWh góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và nhu cầu sử dụng điện phục vụ phát triển đất nước. Tỉnh Quảng Ninh đang triển khai, tổ chức nghiên cứu một số nguồn cung cấp điện mới có tiềm năng, thúc đẩy thu hút đầu tư xây dựng, khai thác điện gió trên bờ và ngoài khơi tại khu vực Cô Tô, Hạ Long, Hải Hà. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 311 dự án điện mặt trời mái nhà với tổng công suất 3.640,80kWp; Đồng thời lập Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) và Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII tại Quyết định số 262/QĐ-TTg ngày 01/4/2024 theo đó nguồn năng lượng tái tạo tại Quảng Ninh gồm: (i) Nguồn điện gió trên bờ, gần bờ: 400MW; (ii) Nguồn điện mặt trời mái nhà (tự sản, tự tiêu): 73MW; (iii) Nguồn điện sinh khối: 40MW; (iv) Nguồn điện sản xuất từ rác: 30MW. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nhưng việc phát triển kinh tế biển của tỉnh vẫn còn một số hạn chế: Phát triển kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, cảng biển, phát triển du lịch biển đảo và nuôi trồng hải sản. Tỷ trọng đóng góp của các ngành kinh tế thuần biển trong GRDP và thu ngân sách còn thấp; Khoa học công nghệ biển chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế biển. Hạ tầng cảng biển đã được quan tâm đầu tư nhưng tiến độ triển khai chưa đáp ứng được yêu cầu để khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế phát triển; Chưa hình thành được chuỗi du lịch đường biển kết nối các khu vực tỉnh, thành phố có tiềm năng phát triển du lịch biển; công nghiệp ven biển chưa đáp ứng yêu cầu, quy mô nhỏ, năng lực chế biến thấp, giá trị gia tăng thấp; Chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế tạo đột phá trong phát triển kinh tế biển, dịch vụ cảng biển và phát triển một số khu kinh tế, khu công nghiệp...

b) Mô hình, định hướng phát triển kinh tế xanh gắn với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, logistics biển và các ngành kinh tế biển bền vững tỉnh Quảng Ninh:

Hiện nay, chiến lược, chính sách biển, đại dương của các tổ chức quốc tế và nhiều nước có biển hiện nay đều đề cao giá trị của biển và đại dương, khai thác lợi thế, tiềm năng của biển phục vụ phát triển, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững số 14 của Liên Hợp Quốc, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Hầu hết các nước đều đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững, bảo đảm các vùng biển, đại dương khoẻ mạnh, ưu tiên cho việc mở cửa hướng ra biển, hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch biển, hàng hải… phát triển một số ngành kinh tế mới trên cơ sở tận dụng thành tựu cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) như năng lượng tái tạo, công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học biển...Các khái niệm, thuật ngữ về xây dựng, phát triển một trung tâm (centre, cluster), một vùng/khu vực (region, area, zone), đặc khu kinh tế biển tuy có khác nhau về cách tiếp cận giữa các tổ chức, học giả nhưng cơ bản đều nhấn mạnh đó là một nơi có sự phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển một cách mạnh mẽ và đa dạng dựa trên các lợi thế riêng có về các nguồn tài nguyên, môi trường và có các ngành công nghiệp hỗ trợ cho việc đó, cùng với những chính sách ưu đãi, chế độ quản lý hiện đại và hiệu quả. Các trung tâm kinh tế biển phải tận dụng được các lợi thế tự nhiên riêng có này để tạo ra tăng trưởng và thúc đẩy không chỉ các ngành lĩnh vực kinh tế dựa vào biển mà còn các ngành, nghề, khu vực khác trên đất liền cùng phát triển[8]. Nhìn chung một trung tâm kinh tế biển hiện đại là: (i) Một nơi giúp tối đa hóa các tiềm năng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác để mang lại cơ hội tăng trưởng và kéo theo phát triển các ngành, lĩnh vực khác nhưng không làm phương hại đến nguồn vốn biển tự nhiên cho thế hệ hôm nay và mai sau; (ii) Có không gian kinh tế rộng lớn và cơ cấu kinh tế đa dạng; (iii) Có chính sách ưu đãi về quản lý, vốn đầu tư, xuất nhập khẩu, cơ hạ tầng hiện đại… để tạo sức hút các nhà đầu tư với những dự án lớn; (iv) Phát huy được vị trí hạt nhân, động lực kinh tế cho các địa phương lân cận và cho cả vùng, đồng thời đảm bảo tốt việc kết hợp giữa phát triển kinh tế- xã hội với việc giữ vững an ninh, quốc phòng, chủ quyền quốc gia và tạo được sự gắn bó với các nước trong khu vực và trên thế giới trong quá trình hội nhập.

Quảng Ninh là một khu vực ven biển và biển, có ranh giới vị trí địa lý xác định, có khả năng phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, có khả năng cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ, trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ biển hàng đầu của quốc gia và khu vực, một khu thí điểm cải cách và mở cửa kinh tế biển của quốc gia và là vùng trình diễn trọng điểm quốc gia về văn minh sinh thái biển, bảo vệ ĐDSH và môi trường biển. Kinh tế biển Quảng Ninh hội tụ đầy đủ yếu tố của khu kinh tế biển, khu công nghiệp, các đô thị hiện đại, các trung tâm dịch vụ, du lịch với các kết cấu hạ tầng liên quan, các khu bảo tồn thiên nhiên biển, ven biển, di sản thiên nhiên…Từ kinh nghiệm quốc tế và trong nước, có thể nhận diện mô hình và định hướng phát triển kinh tế biển Quảng Ninh như sau:

(1) Mô hình phát triển một số ngành kinh tế biển chính:

- Mô hình phát triển du lịch và dịch vụ biển đảo bền vững: cần được xây dựng dựa trên 03 triết lý ISA: (i) Bản sắc (Identity), (ii) Bền vững (Sustainability), và (iii) Hấp dẫn (Attractiveness). Sử dụng triết lý AIS làm khẩu hiệu trong thu hút du khách và phát triển du lịch biển, nhằm đảm bảo: du lịch biển phải có bản sắc riêng, có điểm khác biệt và đặc sắc so với các sản phẩm du lịch biển ở các địa phương trong nước khác và quốc tế; du lịch phải hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững, du lịch xanh, thông minh, không phát thải; Ngành du lịch phải liên tục tạo ra và duy trì sức hấp dẫn cho từng loại hình, sản phẩm du lịch biển, đảo; không ngừng làm mới bản thân bằng các sản phẩm và hoạt động du lịch mới, hấp dẫn.

(2) Mô hình phát triển kinh tế hàng hải (cảng biển, logistics, vận tải biển): cần được xây dựng trên 03 trụ cột: (i) Xanh (Green); (ii) Thông minh (Smart); (iii) Năng suất (Productivity), nhằm đảm bảo: Xây dựng mô hình cảng xanh hướng đến giảm thiểu dấu chân sinh thái bằng cách thực hiện nhiều biện pháp để giảm phát thải khí, ô nhiễm nước; tối ưu hóa tiêu thụ năng lượng, thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo; tăng cường vận tải thân thiện môi trường; thực hiện chiến lược giảm mức phát thải GHG về 0 trong các hoạt động vận tải biển. Tăng cường áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại trong khai thác; vận hành cảng, hoạt động logistics và vận tải biển theo đúng quy trình, quy phạm quốc tế. Áp dụng các công nghệ quản lý và vận hành có khả năng áp dụng AI trong việc xử lý và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác; tập trung sử dụng các thành tựu công nghệ: AI, Internet vạn vật (IoT), kỹ thuật số (Digital Twin), 5G… 

(3) Mô hình phát triển công nghiệp ven biển: theo hướng năng suất, sinh thái, giảm phát thải khí nhà kính (GHG), tiến đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 trong mỗi khu công nghiệp và trong tất cả các họat động sản xuất công nghiệp. Quy hoạch, phát triển các khu công nghiệp theo hướng liên kết cụm ngành, chuyên sâu nhằm tăng cường hiệu quả chuỗi cung ứng và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ hỗ trợ. Tăng cường năng lực quan trắc, áp dụng công nghệ cảnh báo sớm các hoạt động xả thải ra môi trường tự nhiên. húc đẩy mô hình tổ hợp về khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ để tạo sự lan tỏa các hoạt động sản xuất, dịch vụ, tạo môi trường sống tốt để thu hút người lao động, đội ngũ tri thức, nhà quản lý đến làm việc.

(4) Mô hình phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản: hình thành chuỗi giá trị khai thác thủy sản; thu hút đầu tư phát triển khai thác thủy sản, hình thành những doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh cao trong ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản. Ưu tiên mục tiêu bền vững trên cơ sở giảm dần về tần suất và tổng sản lượng khai thác, đánh bắt. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật thủy sản; tăng cường kiểm soát, phát hiện, xử lý nghiêm đối với các tàu cá: không đăng ký, không giấy phép khai thác, không đăng kiểm. Xử lý nghiêm đối với các vi phạm khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Thực hiện kế hoạch chuyển từ nuôi trồng hải sản theo phương thức tự phát, hiệu quả thấp, không thân thiện môi trường sang nuôi công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và nuôi xa bờ. Xây dựng các mô hình liên kết, liên doanh, gắn kết ác khâu trong quá trình khai thác, nuôi trồng đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với từng đối tượng hải sản. 

(5) Mô hình phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ bảo vệ môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Thực hiện lộ trình giảm phát thải GHG, cùng cả nước hướng đến mục tiêu 'net zero' 2050. Đặt ưu tiên bảo vệ môi trường biển tương xứng với ưu tiên phát triển kinh tế biển. Thực hiện mô hình quản lý tổng hợp biển và hải đảo (ICM), đánh giá lợi ích tổng thể, cân bằng giữa các hoạt động kinh tế, giữa phát triển và bảo tồn. Chú trọng công tác phòng ngừa và kiểm soát đối với các hoạt động phát triển du lịch biển đại trà; hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản, thủy sản; vận chuyển hàng hóa, dầu khí trên biển và qua các cảng biển. Thực hiện các biện pháp chống xói mòn bờ biển, các hoạt động khai thác vùng bờ biển gây ô nhiễm, sử dụng bừa bãi vùng đất, nguồn nước. Bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái biển, bảo vệ đa dạng sinh học biển; nghiên cứu tăng diện tích các khu bảo tồn biển và xây dựng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng dựa vào cộng đồng.

(còn nữa)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 A. Tài liệu trong nước 

1. Báo cáo của nhóm Sáng kiến Việt Nam (2021).

2. Bộ kế hoạch đầu tư (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020, Thủ Tướng Chính Phủ. 

3. Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2017), Phát triển bền vững kinh tế biển: từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. 

4. Dư Văn Toán (2009), Về một cách tiếp cận bảo vệ tài nguyên môi trường biển mới ở vùng biển Việt Nam: phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững, Hội thảo quốc gia Môi trường và PTBV trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội. 

5. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2022 – 2023.

6. Nguyễn Chu Hồi (2007), Tầm nhìn kinh tế biển và phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo Quốc Gia.

7. Nghị quyết số 44/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng, đẩy mạnh xã hội hoá, chú trọng phát triển kinh tế biển; 

8. Quốc Hội Việt Nam (2012), Luật số 18/2012/QH13 của Quốc hội : LUẬT BIỂN VIỆT NAM. 

9. Trương Minh Dục (2016), Phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền vùng biển quốc gia, Tạp chí Kinh tế và quản lý, tháng 1/2016. 

10. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc ban hành quy chế quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, số 06/2019/QĐ-UBND ngày 29/01/2019. 

11. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc phê duyệt Đề án tổng thể về quản lý, phát triển sản phẩm du lịch biển đảo vịnh Hạ Long - vịnh Bái Tử Long - Vân Đồn - Cô Tô, số 4686/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2020. 

12. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định về việc phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, số 4839/QĐ-UBND ngày 29/12/2020. 

13. Dương Quỳnh Phương, Lê Thanh Huệ, Di sản thiên nhiên - thế mạnh để phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM, số 2 (80)/2016, tr.109 – 118. 

B. Tài liệu quốc tế 

1. Báo cáo thường niên năm 2023 của WB với chủ đề “healthy ocean-healthy economies - healthy communities: đại dương khỏe mạnh - nền kinh tế khỏe mạnh - cộng đồng khỏe mạnh”. 

2. Malcolm Gillis và các tác giả: Kinh tế học của sự phát triển. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Trung tâm thông tin tư liệu 1990 

3. Anne Maria Eikeset, A.B.M., Brynhildur Davíðsdóttire, Dane H. Klinger, Simon A. Levinb, Elena Rovenskayac,d, Nils Chr. Stensetha (2017), What is blue growth? The semantics of “Sustainable Development” of marine environments, Marine Policy, 2017. 87: p. 177-179. 

4. Brian Clark Howard (2018), Blue growth: Stakeholder perspectives. Marine Policy, 87 (2018): p. 375-377. 

5. Joseph F. Hair JR (2009), Multivariate data analysis, 7th Edition, Pearson New International Edition. 

6. UNESCO (2008), A handbook for Measuring the Progress and Outcomes of Integrated Coastal and Ocean Management. 


 

[1] Năm 2018 sản lượng khai thác chiếm 52,4%, nuôi trồng chiếm 47,6% tổng sản lượng thủy sản; năm 2023 cơ cấu sản lượng khai thác chiếm 46,5%, nuôi trồng chiếm 53,5% tổng sản lượng thủy sản.

[2] Năm 2018 giá trị sản xuất theo giá cố định đạt 5.279,028 tỷ đồng năm 2023 đạt 6.943,457 tỷ đồng tăng 1,32 lần.

[3] Năm 2018 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 34 triệu USD đến năm 2023 đạt 150 triệu USD gấp 4,4 lần.

[4] Diện tích nuôi tôm 7.500 ha năm 2023 giảm 30,7% so với năm 2018 là 10.821 ha, tuy nhiên sản lượng tôm năm 2023 đạt 27.555,1 tấn tăng 2,09 lần so với năm 2018 đạt 13.193 tấn

[5] Năm 2019 đạt 2.136,4 tỷ đồng; năm 2020 đạt 2.454,7 tỷ đồng; năm 2021 đạt  2.862,1 tỷ đồng; năm 2022 đạt  3.475,0 tỷ đồng; năm 2023 đạt 4.018,9 tỷ đồng. 

[6] Năm 2019 đạt 99 triệu tấn, tăng 21% so với năm 2018; năm 2020 đạt 110 triệu tấn, tăng 12% so với năm 2019; năm 2021 đạt 149,0 triệu tấn; năm 2022 đạt 131,0 triệu tấn; năm 2023 đạt 138,7 triệu tấn; 04 tháng đầu năm 2024 đạt khoảng 50,8 triệu tấn chủ yếu là hàng container, hàng lỏng, hàng rời, hàng khô.

[7] Năm 2019 đạt 77.075 lượt khách; năm 2020 đạt 31.453 lượt khách, năm 2021 không ghi nhận có khách quốc tế đến Quảng Ninh bằng tàu biển, giảm 48% so với 2019, do tác động của đại dịch Covid-19, các hãng tàu khách quốc tế không triển khai các tuyến du lịch cho đến khi dịch bệnh được kiểm soát; năm 2022 đạt 381 lượt khách; năm 2023 đạt  61.446  lượt khách.

[8] Singapore, Rotterdam, Hamburg, Busan và Thượng Hải là những trung tậm vận tải biển lớn gắn liền với các ngành công nghiệp hàng hải và kéo theo là các hoạt động logistic, du lịch, thương mại.... Một số khu vực phát triển kinh tế biển của Na Uy tập trung vào thăm dò, khai thác dầu khí và đánh bắt, nuôi trồng hải sản làm động lực lôi kéo các ngành du lịch, sinh học biển… Hawaii của Mỹ tập trụng chủ yếu vào du lịch, nghiên cứu khoa học biển kết hợp nuôi trồng, khai thác hải sản. Trung Quốc thành lập hàng loạt các đặc khu kinh tế ven biển (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn…) dựa trên lợi thế tài nguyên, môi trường riêng có, kết hợp với thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao…