Chắt chiu hương biển, gìn giữ nét văn hóa xưa của cư dân vạn chài Hạ Long
Giữa mênh mông sóng nước Hạ Long, nơi những vách núi đá vôi sừng sững ôm trọn lòng vịnh, từng có một cộng đồng dân cư làng chài sinh sống lâu đời trên vịnh. Cuộc đời họ thuở ấy gói gọn trên những con thuyền nhỏ thô sơ, bồng bềnh theo con nước. Không giống như trên đất liền có giờ giấc cố định, nhịp sống nơi đây hoàn toàn bị chi phối bởi con nước, thời tiết và thời gian làm nghề. Chính điều đó đã tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt trong văn hóa ẩm thực và cách bố trí bữa ăn hằng ngày của bà con.
Khi đó, phương tiện còn thô sơ, mọi việc đi lại, đánh bắt đều phụ thuộc vào những cánh buồm chạy bằng sức gió và đôi tay chèo. Vì thế, mỗi chuyến ra khơi hoàn toàn phải nương theo thời tiết, đối mặt với muôn vàn thử thách, hiểm nguy giữa biển trời mênh mông. Thuyền nhỏ hạn chế đi xa, bà con chỉ quẩn quanh ven bờ, bắt được con cá, con tôm là vội vàng cập bến trao đổi. Những buổi gặp gỡ ấy không chỉ để bán hải sản, mua vội gùi gạo, cân muối hay xin nước ngọt mang đi mà còn là sợi dây tình cảm thắt chặt giữa người dưới nước và cư dân ven bờ, để những khi giông bão, cơ nhỡ, họ lại có nơi nương tựa.

Do đặc thù nghề nghiệp vất vả, thuở ấy bà con thường chỉ ăn hai bữa chính trong ngày với không gian ăn uống ngay trên khoang lái hoặc mui thuyền đầy lộng gió. Bữa sáng bắt đầu khi nắng đã lên, khoảng tám chín giờ, sau một đêm thức trắng quăng chài, thả lưới. Bữa chiều lại được ăn sớm vào tầm ba bốn giờ để chuẩn bị cho một chuyến đi biển mới. Chỉ đến mùa đông lạnh giá, cả nhà mới di chuyển vào trong lòng thuyền để sinh hoạt. Chính nguồn hải sản giàu có cùng thảm thực vật xanh tốt của vịnh Hạ Long đã chở che và nuôi sống các thế hệ cư dân vạn chài qua bao đời nay.

Chiếc bếp nấu của bà con dưới thuyền ngày trước cũng giản đơn đến lạ. Thuở đầu chỉ là ba hòn đá được đặt gọn trong một chiếc chậu đồng, sau này đổi thành chiếc bếp kiềng nhưng vẫn đặt trong chậu để giữ cho ngọn lửa không cháy lan ra xung quanh thuyền. Củi đun không sẵn như trên bờ, cứ dăm bảy ngày, bà con lại chèo thuyền cập vào các chân núi đá, leo lên tìm những cành củi khô mang về tích trữ.

Gắn liền với sông nước, bữa cơm thường nhật của ngư dân các làng chài hầu như chỉ có cá và loại hải sản tự đánh bắt được. Quanh năm suốt tháng, các món ăn lặp đi lặp lại theo cách nấu đơn giản nhất của cư dân vùng biển. Nếu bữa này ăn bát canh riêu cá thanh mát thì bữa sau lại là nồi cá kho mặn đưa cơm, hiếm hoi lắm mới có thêm đĩa rau xanh hái vội trên đảo chấm với mắm cốt.
Chính từ sự đơn điệu ấy, người dân vạn chài đã khéo léo sáng tạo ra những món ăn mang đậm hương vị của biển khơi. Phổ biến và được yêu thích nhất là món cá nấu chua. Chẳng cần gia vị cầu kỳ, vị chua thanh của món ăn được chắt chiu từ những loài cây mọc trên vách đá hoặc vùng ngập mặn như quả me rừng, me đất, hay những chiếc lá bứa, quả bứa chua dịu. Sự kết hợp tự nhiên ấy tạo nên một hương vị đậm đà, khó quên, rất hợp khẩu vị của cư dận vạn chài quanh năm ăn sóng nói gió. Chỉ vào những ngày giỗ chạp hay Tết đến xuân về, mâm cỗ của bà con mới xuất hiện thêm đĩa thịt gà, thịt lợn, những thứ vốn xa xỉ đối với cuộc sống của người dân vạn chài quanh năm lênh đênh trên sông nước.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống của ngư dân các làng chài đã có nhiều cải thiện đáng kể, chuyện ăn uống không còn phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hải sản tự đánh bắt. Trên sóng nước vạn chài khi ấy, buổi sáng người ta đã dễ dàng tìm được đồ ăn, thức uống. Ngoài hai bữa chính, thỉnh thoảng bà con còn ăn quà sáng như xôi, cháo, phở từ những chiếc thuyền bán hàng rong. Khách hàng thường xuyên nhất của các thuyền quà sáng này là trẻ em, chúng được bố mẹ ưu tiên cho ăn sáng no nê trước khi đến các lớp học nổi trên vịnh.
Nếu như ngày xưa việc mua thực phẩm khó khăn bao nhiêu thì ở giai đoạn sau này mọi thứ đã thuận tiện hơn rất nhiều nhờ sự xuất hiện của những chiếc thuyền bán hàng rong do chính người trong thôn vào bờ lấy hàng. Cứ năm, sáu ngày họ lại vào đất liền một chuyến để mang ra đủ loại nhu yếu phẩm để được lâu như trứng, cà chua, me, bí, khoai tây. Trong đó, mặt hàng bán chạy nhất luôn là me chua, bởi từ xưa đến tận những năm tháng sau này, cá nấu chua vẫn luôn là món ăn chủ đạo trong mỗi nếp nhà vạn chài.
Nhờ sự giao thương ấy, mâm cỗ ngày giỗ, ngày Tết của người dân vạn chài trở nên vô cùng thịnh soạn với năm bảy món không kém gì đất liền, trong đó các món ăn chế biến từ hải sản như chả mực, mực nhồi, cá hấp vẫn đóng vai trò chủ đạo. Ngay cả trong những ngày giông bão hay khi có khách đột xuất, bà con vẫn có sẵn nguồn cá, hải sản nuôi trong lồng bè hoặc thực phẩm từ các đại lý hải sản tại chỗ để kịp thời sửa soạn bữa cơm đãi khách.
Giờ đây, nhằm ổn định cuộc sống lâu dài cho bà con vạn chài đồng thời hoàn nguyên lại môi trường trong lành, xanh sạch cho vịnh Hạ Long, những cư dân vạn chài năm xưa đã được hỗ trợ di dời lên bờ định cư. Cho dù cuộc sống đã đổi thay, những nếp sinh hoạt mộc mạc xưa trên con thuyền nay chỉ còn trong ký ức nhưng hương vị đậm đà của các món ăn truyền thống cùng tình biển mặn mòi vẫn mãi là những giá trị tinh thần quý báu, gắn liền với di sản. Đó chính là một mảnh ghép lịch sử vô cùng quý giá, góp phần tạo nên bức tranh văn hóa hoàn mỹ, vẹn nguyên cho vịnh Hạ Long – di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Trân trọng, giữ gìn và lan tỏa những ký ức ấy chính là cách chúng ta nâng niu nét văn hóa độc đáo của cư dân vạn chài Hạ Long để hồn biển mặn mòi của một thời ngư dân vạn chài vẫn luôn còn mãi, hòa vào dòng chảy đương đại và làm phong phú thêm cho vẻ đẹp của vịnh Hạ Long hôm nay.
(Bài viết có sử dụng thông tin của sách chuyên khảo “Di sản văn hóa làng chài Cửa Vạn vịnh Hạ Long”- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh xuất bản năm 2010).
Hằng Nga