Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Giá trị địa chất, địa mạo

In

PHẦN I: GIỚI THIỆU GIÁ TRỊ ĐỊA CHẤT – ĐỊA MẠO VỊNH HẠ LONG VÀ VÙNG PHỤ CẬN
1. Khái quát về giá trị nổi bật toàn cầu về địa chất – địa mạo Vịnh Hạ Long

Giá trị nổi bật toàn cầu về địa chất-địa mạo của Vịnh Hạ Long (bao gồm cả vịnh Bái Tử Long và vùng bờ biển giáp kề) được khẳng định bởi đó là một cảnh quan karst trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm bị biển xâm lấn và biến cải nhiều lần và hiện vẫn đang ngập chìm một phần trong nước, với hàng ngàn đảo cực kỳ đa dạng. Các đảo đá nổi lên từ đáy biển, có khi cao tới hàng trăm mét, khi thì đứng riêng lẻ, khi tập trung thành dãy, thành chùm, rải rác khắp mặt vịnh. Ông cha ta quả là khéo khi đặt những cái tên thật ấn tượng cho nhiều hòn đảo, dãy đảo và thậm chí là toàn bộ Vịnh. Nào là hòn Trống Mái - mang hình hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên mặt nước; hòn Lã Vọng - mang hình ông già ngồi câu cá; hòn Đầu Người - mang hình đầu người đang nhìn về đất liền; hòn Bút, hòn Nến, rồi đảo Tuần Châu, Vịnh Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long v.v. Nhiều đảo có những hang động tuyệt đẹp, như các hang Đầu Gỗ, Thiên Cung, Sửng Sốt, Bồ Nâu, Trinh Nữ, Tam Cung, Mê Cung, Tiên Ông, Kim Quy, Hoa Cương v.v. Thiên nhiên đã tạo nên một bức tranh thủy mặc khổng lồ, sống động vươn lên từ biển. Có thể nói Vịnh Hạ Long là nơi quy tụ gần như đầy đủ các dạng cơ bản của địa hình karst trên thế giới.

Tại đây cũng có nhiều biểu hiện địa chất hấp dẫn, có giá trị khoa học cao như các ranh giới địa tầng, các điểm hóa thạch, là những di sản địa chất cần được đầu tư nghiên cứu và bảo tồn.

2. Một số đặc điểm và giá trị địa chất-địa mạo của Vịnh Hạ Long

Hầu như mỗi hòn đảo, hang động, bãi cát, các ngấn nước biển, nếp uốn, hang động, hóa thạch v.v. trên Vịnh Hạ Long đều góp phần làm nên giá trị địa chất-địa mạo của khu vực này.

2.1. Cảnh quan karst trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm bị biển xâm lấn và biến cải nhiều lần

2.1.1. Đa dạng địa hình karst

Cảnh quan karst Vịnh Hạ Long cực kỳ đa dạng, kỳ thú, là kết quả của quá trình phá hủy đá vôi lâu dài trong điều kiện đặc biệt. Trước khi có biển, nơi đây từng tồn tại một tầng đá vôi dày và quá trình karst đã bắt đầu từ đó.

Các tháp Karst trên vịnh Hạ Long

Theo nghiên cứu của Waltham T. (1998), quá trình karst hóa ở Vịnh Hạ Long bắt đầu từ thế Miocene (20 triệu năm trước). Một số ý kiến khác cho rằng chúng có thể bắt đầu từ kỷ Đệ Tứ (2,588 triệu năm trước) (Phạm Khả Tùy, 2010) hoặc thế Pliocene (5,3 triệu năm trước) (Đỗ Tuyết, 2013). Tuy nhiên, quá trình karst hóa ở khu vực này chắc chắn đã xảy ra sớm hơn nhiều. Sau khi đá vôi các hệ tầng Phố Hàn (C1ph) và Bắc Sơn (C-Pbs) hình thành dưới đáy biển, khu vực này đã trở thành đất liền vào cuối Trias sau pha tạo núi Đông Dương (khoảng 230-200 triệu năm trước). Khi đó biển hầu như đã rút khỏi lãnh thổ Việt Nam nói chung và khu vực Hạ Long nói riêng. Trong bối cảnh lục địa, các quá trình uốn nếp, tạo núi v.v., đặc biệt là trong giai đoạn Tân kiến tạo, đã làm lộ ra các tầng đá vôi và chúng đã bị phá hủy bởi các quá trình nội sinh (hoạt động kiến tạo, tạo uốn nếp, đứt gẫy) và ngoại sinh (bóc mòn, hòa tan, tạo nên các địa hình karst đa dạng).

Sự sụt lún khu vực ở khu vực DSTG Vịnh Hạ Long đã khiến nước biển xâm lấn vào đất liền, biến cánh đồng karst Hạ Long thành cảnh quan ngập nước. Hàng ngàn đảo đá vôi lớn nhỏ đã hình thành, nhô lên trên mặt biển, tạo vẻ đẹp hấp dẫn cho Hạ Long.

Như vậy là cho đến trước Pleistocene muộn-Holocene tại khu vực Hạ Long đã tồn tại các cảnh quan karst lục địa trước khi chúng bị biển xâm lấn. Phần đỉnh của các dãy núi hay quả núi đá vôi riêng rẽ đã trở thành các dãy đảo hoặc các hòn đảo đá vôi độc lập. Phần nền của cánh đồng karst thì bị ngập chìm dưới biển. Đó chính là những cánh đồng tương đối bằng phẳng, nơi sinh sống của cư dân các nền văn hóa cổ nổi tiếng: Văn hóa Soi Nhụ (25.000-7.000 năm trước, tương đương với các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn), Văn hóa Cái Bèo (7.000-5.000 năm trước, gạch nối giữa Văn hóa Soi Nhụ và Văn hóa Hạ Long), Văn hóa Hạ Long (hậu kỳ đá mới, 5.000-3.000 năm trước). Để hiểu về địa hình karst Hạ Long trước khi bị biển xâm lấn, có thể quan sát địa hình của đảo Cát Bà – đảo đá vôi lớn nhất của Việt Nam. Trên đảo Cát Bà cũng có thể thấy những dãy núi hoặc núi đá vôi đơn độc, những thung lũng, lòng chảo hoặc phễu karst, các hang động karst phát triển ở những độ cao khác nhau v.v.. Cần lưu ý, một vài dạng địa hình karst âm khi bị ngập nước biển được người dân vùng vịnh Hạ Long gọi khác đi, không giống khi chúng ở trên lục địa. Ví dụ, các thung lũng karst ngập nước, có một đầu thông ra biển, được gọi là tùng, các phễu karst ngập nước được gọi là áng, có dạng một ao/hồ dạng gần tròn.

Sau đây là một số dạng địa hình karst tiêu biểu của vịnh Hạ Long:

a) Địa hình karst dương: Đây là loại địa hình karst nổi cao lên so với bề mặt nằm ngang, có hình thái đa dạng và kích thước khác nhau. Địa hình karst dương thường được quy về một số loại – karst dạng vòm, karst dạng chóp, karst dạng chuông, karst dạng tháp v.v. Các đảo đá vôi nổi cao trên mặt nước Vịnh Hạ Long hiện nay đều có thể coi là địa hình karst dương, là đỉnh của các núi sót đa dạng, nhô lên trên bề mặt khá bằng phẳng của cánh đồng karst đã bị ngập trong nước biển.

b) Địa hình karst âm: Đây là dạng địa hình karst có dạng lõm so với bề mặt nằm ngang, kích thước từ vài mét đến hàng nghìn mét theo chiều dài và diện tích từ vài mét vuông đến hàng chục kilômet vuông. Những hố sụt karst, phễu karst, giếng karst, lòng chảo karst và cánh đồng karst đều thuộc loại địa hình karst âm.

Trên Vịnh Hạ Long khá phát triển các dạng địa hình karst âm, trong số đó một số dạng có tên gọi địa phương, như thung lũng karst (tùng), hố sụt, lòng chảo, phễu karst (áng).

c) Địa hình karst ngầm: Hang động karst là những khoang rỗng có hình dạng và kích thước khác nhau được hình thành trong lòng khối đá carbonat, thông với bề mặt bằng một hoặc nhiều cửa. Hang động karst được hình thành chủ yếu do hoạt động của nước hòa tan đá vôi, đặc biệt là theo các đới dập vỡ của đứt gẫy địa chất. Chúng rất phổ biến trong các vùng đá vôi và thường liên kết thành hệ thống, phân bố thành nhiều tầng cao thấp rất khác nhau. Độ cao của các tầng hang động thường tương ứng với các bậc thềm sông, thềm biển, do sự phát triển của chúng liên quan với các chu kỳ xói mòn của hệ thống sông. Trong vùng karst, hang động thường lộ ra bên rìa các núi đá vôi.

Các hang động vùng Vịnh Hạ Long thường kéo dài theo phương nằm ngang, phân thành tầng ở các mức độ cao tương ứng với các bậc thềm mài mòn cổ: 10-15m, 20-30m và 40-60m v.v. Trong phạm vi Vịnh Hạ Long, hang động phát triển khá phong phú và đa dạng, trong số đó có những loại hang đặc trưng cho vùng karst ngập nước, như hang hàm ếch, hang luồn.

Trong hang động đá vôi thường có những thể thạch nhũ đẹp mắt, đó là kết quả của hoạt động nước ngầm trong hang. Trong khe nứt của đá vôi luôn luôn lưu thông nước chứa Ca(HCO3)2 ở dạng hòa tan. Khi loại nước này nhỏ xuống từng giọt từ trần hang, gặp không khí trong hang có nhiệt độ cao hơn so với trong lòng đá – một lượng nước (H2O) bốc hơi và carbonat calci (CaCO3) kết tủa, theo công thức: Ca(HCO3)2 ->  CaCO3 +  H2O + CO2. Do đó từ trần hang, nơi giọt nước nhỏ xuống, cũng như dưới nền hang, chỗ nước rơi, đều có kết tủa của CaCO3 dưới dạng các tinh thể calcit lóng lánh. Kết quả là, với thời gian, từ trên trần hang có những thạch nhũ rủ xuống, được gọi là chuông đá (stalactite), còn từ dưới nền hang mọc lên các măng đá (stalagmite). Chuông đá và măng đá không ngừng phát triển, lớn lên và dài ra, rồi cuối cùng giao nhau, hợp thành cột đá. Nguyên lý thì đơn giản vậy, nhưng sự hình thành chuông đá và măng đá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nên hệ thống thạch nhũ trong hang động cũng cực kỳ phong phú, đa dạng, đa sắc và tạo nên những kiệt tác của thiên nhiên long lanh, kỳ ảo, làm say đắm lòng người. Trong vùng Vịnh Hạ Long có rất nhiều hang với hệ thạch nhũ đẹp, như động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, Hang Đầu Gỗ, hang Hồ Động Tiên v...

- Xét về hình thái, hang động trong các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long được chia ra làm 3 loại chính:

+ Các hang ngầm cổ

Hang ngầm cổ là loại hang động được hình thành sớm nhất trong vùng và hiện nay đã bị nâng cao trên mực nước biển khoảng 10m trở lên. Những hang này thường nằm sâu trong lòng khối núi đá vôi, một số hang có kích thước rất lớn . Quá trình hình thành các hang ngầm cổ có liên quan đến hoạt động kiến tạo và tác động của nước ngầm, còn trong điều kiện cụ thể của vùng thì liên quan đến mực nước biển cổ. Về sau chúng được nâng lên do chuyển động kiến tạo hoặc do những nguyên nhân khác khiến mực nước biển hạ xuống, khiến chúng trở thành các hang treo. Chúng có thể nằm ngang hoặc có độ dốc nhất định do được thành tạo liên tục trong suốt khoảng thời gian thay đổi mực nước ngầm trong quá khứ. Ngày nay chúng không còn liên hệ với mực nước biển nữa, về cơ bản đã ngừng hoạt động, và trở thành các hang hóa thạch (fossil caves). Trong Vịnh Hạ Long có nhiều hang hóa thạch như thế: hang Sửng Sốt, hang Đầu Gỗ, động Thiên Cung v...

+ Các hang nền

Các hang nền karst được hình thành do xâm thực mở rộng ngang, có lối vào thông gần như nằm ngang, thường liên quan đến các thềm tích tụ hoặc bào mòn nằm ngang mực cơ sở. Tiêu biểu là các hang: Trinh Nữ, Bồ Nâu, Hang Trống… Đa phần các hang nằm ở độ cao 5-15m.

Hang Trống

+ Các hang hàm ếch

Hang hàm ếch là loại hang có tuổi trẻ nhất, chủ yếu hình thành do sự phá huỷ của nước biển và sóng triều hiện đại. Nhìn chung các đảo đá vôi trong vùng đều có phần chân ít nhiều bị lõm vào, đôi khi tạo thành các hang hàm ếch biển ăn sâu vào trong đảo. Có những hang hàm ếch ăn xuyên qua khối đá vôi sang phía đối diện, trở thành các hang luồn. Các hang luồn thường có trần tương đối bằng phẳng, nằm ngang hoặc cao hơn mức triều dâng hiện nay, còn nền hang ngập dưới biển. Các hang luồn chính là loại hang hoạt động (active cave) trong thời hiện đại, đối lập với các hang hóa thạch đã ngừng hoạt động. Các hang luồn tiêu biểu của Vịnh Hạ Long có thể gặp ở hòn Vụng Châu, đảo Hang Trai, đảo Đầu Bê v.v..

Ngấn biển hàm ếch

d) Các ngấn nước biển

Một minh chứng của quá trình “biển xâm lấn và biến cải nhiều lần” là di tích của các ngấn nước biển . Các ngấn nước biển ở ngang mực triều lên xuống hiện tại là rõ nhất, ai cũng có thể nhận ra và giải thích là do tác động của sóng biển, của nước biển lên vách đá vôi. Nhưng chắc ít người nhận thấy rằng các ngấn nước biển cổ cũng còn được lưu lại khá rõ ở nhiều độ cao khác nhau trong những vụng biển tương đối kín, vách đảo ít bị sập đổ hoặc ở những nơi xưa kia mực biển dừng lâu, kịp tạo thành những hang động ăn sâu vào vách đá. Những ngấn biển cổ nông hơn trên các đảo thường bị xóa do quá trình xâm thực sườn, kể cả hiện tượng sập lở sườn, tạo thành các đảo dạng tháp.

Ngấn nước biển ghi lại những dao động mực nước biển, là dấu ấn của các thời kỳ băng hà-gian băng, của các sự kiện biến đổi khí hậu trong quá khứ. Các ngấn nước biển hiện đại và cận đại thường tạo thành các hàm ếch dài, ăn sâu có khi hàng mét vào vách đảo ở các độ cao 1,5-2m, 2,5-3,5m, 4-6m. Kết quả phân tích đồng vị 14C cho thấy các ngấn biển dưới 3,5m hình thành trong thời gian khoảng 3.000 năm còn các ngấn 4-6m hình thành trong thời gian khoảng 5.000 năm trở lại đây. Các ngấn biển hình thành trong Pliocen muộn-Pleistocene chỉ còn theo dõi được mờ nhạt, đứt đoạn ở các độ cao 7-8m, 9-12m, 20m, 40m và 75-80m. Kết quả phân tích đồng vị 14C cho thấy các ngấn biển dưới 20m được hình thành trong thời gian 20.000-15.000 năm trở lại đây. Chưa có số liệu định tuổi đối với các mức ngấn biển cao hơn và việc tiếp tục nghiên cứu chúng có thể cho ta những thông tin hữu ích về những dao động mực nước biển cũng như những chuyển động nâng hạ của vỏ Trái Đất cả trong quá khứ lẫn hiện tại.

Một điều cũng dễ nhận thấy là các ngấn biển hiện đại, cận hiện đại thường ở cùng mức với các hang luồn. Đương nhiên là thế vì chính các hang luồn cũng phát triển nhờ tác dụng ăn mòn và động lực của sóng, thủy triều hiện đại.

2.2. Một số đặc điểm và giá trị địa chất-địa mạo khác
2.2.1. Lịch sử tiến hóa địa chất lâu dài với cấu trúc địa chất phức tạp, thành phần đá đa dạng

(kèm theo phụ lục sơ đồ tóm tắt lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long - T57 hội thảo 5 năm Di sản và phụ lục Địa niên biểu 2014).

Vịnh Hạ Long có lịch sử tiến hóa địa chất lâu dài, cấu trúc địa chất phức tạp và thành phần đá rất đa dạng:

- Theo Dovjikov A.E. và nnk. (1965), Trần Văn Trị và nnk. (2003)  Vịnh Hạ Long là một phần của “phức nếp lồi Quảng Ninh”, liền kề với “võng chồng nguồn rift nội lục An Châu” ở phía bắc, “vùng sụt lún trẻ Sông Hồng-Vịnh Bắc Bộ” ở phía nam; được chia nhỏ hơn ra “khối nâng đơn nghiêng Vân Đồn” (ở phần B-ĐB Vịnh Hạ Long), “khối sụt dạng nếp lõm Hạ Long” (phạm vi DSTG Vịnh Hạ Long) và “khối nâng dạng nếp lồi Cát Bà” (quần đảo Cát Bà);

- Vịnh Hạ Long được cấu thành từ nhiều phân vị địa tầng có đơn vị đất đá tuổi Paleozoi và Mesozoi như: Các hệ tầng Tấn Mài (O3-S tm), Cô Tô (O3-S ct) (khoảng 460-420 triệu năm trước), Kiến An (S3-4 kn), Đồ Sơn (D1-2ds), Tràng Kênh (D2-3tk), Phố Hàn (C1ph), Bắc Sơn (C-Pbs), Bãi Cháy (P3 bc) và Hòn Gai (T3n-r hg) (khoảng 230-200 triệu năm trước). Các nếp lồi chủ yếu cấu thành từ các hệ tầng Tấn Mài và Cô Tô với trục kéo dài theo phương B-ĐB. Các nếp lõm chủ yếu cấu thành từ hệ tầng Bắc Sơn.

Ở đầu mút phía B-ĐB Vịnh Hạ Long (quần đảo Cô Tô-đảo Trần, các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên v.v.) lộ ra các hệ tầng cổ nhất là Cô Tô (O3-S ct) và Tấn Mài (O3-S tm) với các tập đá có cấu tạo flysh, turbidit, đá flysh, turbidit phân lớp mỏng, lặp lại, bị vò nhàu, uốn nếp mạnh, thành phần chủ yếu là cát kết chứa cuội, sạn kết, bột kết, sét kết chứa nhiều hóa thạch Bút đá (Đặng Mỹ Cung, 2013). Chúng được cho là hình thành ở khu vực chân của sườn lục địa, dễ bị trượt lở, xáo trộn ngay trong quá trình trầm tích.

Đáng chú ý là ở khu vực đảo Cát Ông phía Nam quần đảo Cát Bà cũng thấy rất phổ biến các thành tạo turbidit chứa nhiều san hô, được cho là cũng hình thành ở vị trí sườn dốc của thềm lục địa nhưng sâu hơn so với hệ tầng Cô Tô.

2.2.2. Các dạng địa hình, cảnh quan khác

Vịnh Hạ Long cũng còn nhiều dạng địa hình, cảnh quan khác cũng rất ngoạn mục và có thể bổ sung cho cảnh quan karst kể trên.

Nói đến Vịnh Hạ Long, bên cạnh các đảo đá vôi vốn đã nổi tiếng, đương nhiên không thể không nhắc đến các đảo đất. Gọi thế là vì đá gốc tạo nên chúng không phải là đá vôi mà là các loại đá khác như cát sạn kết, sét bột kết, hoặc ít hơn là sét vôi. Chẳng hạn ta từng nói có đến 95% số đảo trong phạm vi DSTG Vịnh Hạ Long là đá vôi, tức là số còn lại 5% là các đảo đất. Chuyển lên khu vực phía B-ĐB, khu vực Vịnh Bái Tử Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long v.v. thì tỷ lệ này đã trở nên cân đối hơn nhiều. Một loạt các đảo lớn ở đây như Cái Chiên, Cái Bầu, Vĩnh Thực, Ba Mùn, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Đống Chén, Thẻ Vàng v.v. là các đảo đất.

Tương phản với các đảo đá vôi, các đảo đất thường có địa hình mềm mại, đặc biệt viền quanh chúng thường có bãi cát. Nhiều đảo đất còn giữ được thảm thực vật nguyên sinh, có nước ngọt v.v., những điều kiện tự nhiên thiết yếu để con người có thể sinh sống. Trong Vịnh Hạ Long các đảo đất chính là một sự bổ sung tuyệt vời cho cảnh quan karst.

2.2.3. Các di chỉ cổ sinh

Các di chỉ cổ sinh ở Vịnh Hạ Long và lân cận khá đa dạng, phong phú và ở nhiều khoảng tuổi khác nhau, từ Bút đá (Graptolite) trong các thành tạo turbidit tuổi Ordovic-Silur đến các hóa thạch thực vật tuổi Trias muộn. Dưới đây chỉ xin điểm qua một số di chỉ cổ sinh tương đối phổ biến.

2.2.3.1. Hóa thạch San hô bốn tia

Theo Đoàn Nhật Trưởng, Tạ Hòa Phương và nnk (trong Trần Tân Văn và nnk., 2010) hóa thạch San hô bốn tia được tìm thấy ở khá nhiều nơi trên Vịnh Hạ Long, thí dụ trên đảo lớn Cát Bà và đảo Soi Sim. Hệ tầng chủ yếu gồm đá vôi xen silic, vôi-silic và silic đặc trưng cho tướng nước sâu nhưng trong thành phần của hệ tầng có một tập đá vôi vụn sinh vật chứa nhiều đốt thân Crinoidea được hình thành trong môi trường nước nông của thềm lục địa. Đây là tầng chứa nhiều hóa thạch San hô bốn tia, San hô vách đáy, Tay cuộn, Huệ biển. Hóa thạch San hô bốn tia đơn thể, kích thước khá lớn, đường kính 15-30 mm, hiện chưa xác định được tên giống và loài. Ngoài ra còn gặp nhiều quần thể San hô vách đáy thuộc Bộ san hô hình ống (Syringoporida).

2.2.3.2. Di tích cá cổ trên đảo Trà Bản

Theo Đoàn Nhật Trưởng, Tạ Hòa Phương và nnk. (2010) cá cổ tuổi Devon là một loại hóa thạch quí. Các loại cá nguyên thủy nhất xuất hiện vào Silur và thống trị trong Devon. Với số lượng giống loài phong phú, kỷ Devon (410-355 triệu năm trước đây) còn được gọi là Kỷ của cá. Một nhánh cá đã đạt mức tiến hóa đặc biệt để chuyển sang sống trên cạn và là thủy tổ của động vật bốn chân sống trên đất liền.

Trên đảo Trà Bản (xóm Đồng Danh, cách trung tâm xã Bản Sen, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh 1,5km về phía nam), trầm tích hệ tầng Đồ Sơn gồm lớp mỏng sạn kết, chuyển dần lên cát kết dạng quarzit phân lớp dày, màu xám sáng, phong hoá màu vàng nâu, chứa hoá thạch Cá cổ và Thực vật vẩy. Hóa thạch cá gồm những mảnh giáp nhỏ khá phong phú trong cát kết dạng quarzit nhưng ít khi bảo tồn nguyên vẹn. Phần bảo tồn chính là giáp cá - tấm xương cứng bảo vệ phần đầu.

(Đánh giá của IUCN về giá trị địa chất của Vịnh Hạ Long như sau “Vịnh Hạ Long là một điển hình về biển gắn liền với cảnh quan tháp Karst và là một trong những khu vực quan trọng nhất thế giới về Karst Phong Tùng, Phong Linh. Mặc dù khu di sản có những đặc trưng địa mạo giống với nhiều vùng khác nhưng rõ ràng nó vẫn hơn hẳn so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Hơn thế nữa, khu Di sản Hạ Long thể hiện đầy đủ tính nguyên vẹn về các quá trình địa chất ở quy mô lớn.”)

PHẦN II: GIÁ TRỊ ĐỊA CHẤT – ĐỊA MẠO CỦA CÁC ĐIỂM THAM QUAN TRÊN VỊNH HẠ LONG

1. Động Thiên Cung

Động Thiên Cung thuộc nhóm di tích hang ngầm cổ, được hình thành từ 781.000 – 11.700 năm cách ngày nay. Đây cũng là khoảng thời gian hình thành nên những hang động nổi tiếng của Vịnh Hạ Long, như động Mê Cung, hang Sửng Sốt v.v..

Hệ thống măng nhũ đá trong động Thiên Cung rất phát triển, có mặt ở khắp nơi trên trần, đáy và đặc biệt trên tường động với hình dáng đa dạng như rèm đá, cột đá, hoa đá… Nhiều nơi măng nhũ đá vẫn tiếp tục phát triển. Mỗi măng nhũ đá khi gõ vào phát ra những âm thanh khác nhau, từ trong trẻo đến trầm lắng, khiến du khách không khỏi nghĩ mình là nhạc công chơi đàn đá. Đáy động khá bằng phẳng, đôi chỗ bị phủ bởi lớp travertine còn mới. Động có trần cao và nhẵn tạo nên không gian khoáng đạt và hoành tráng. Trung tâm động có bốn cột nhũ đá lớn, được gọi là “tứ trụ” được chạm nổi nhiều hình thù đẹp mắt và độc đáo. Đặc biệt tại ngăn thứ ba, khi du khách tiến tới lối ra của động sẽ bắt gặp một thành tạo vô cùng đẹp mắt, hình ảnh “bầu vú tiên”. Ngày nay, nước trên trần hang vẫn đang nhỏ xuống tiếp tục hoàn thành việc “tạo hình” cho thành tạo độc đáo này.

2. Hang Sửng Sốt

Hang Sửng Sốt là hang hóa thạch phát triển trên đá vôi C-Pbs ở độ cao 25m so với mực nước biển. Đây là hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Hệ thống măng nhũ đá trong hang phát triển mạnh và đa dạng như rèm đá, măng đá, cột đá… Đặc biệt trong ngăn thứ nhất có một hồ nước nhỏ trong vắt được tạo nên bởi nước bão hòa canxit chảy tràn trên bề mặt tạo thành các dòng travertine uốn lượn làm cho phòng hang trở nên sinh động và kỳ bí. Ngăn thứ hai khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ kỳ vĩ với hệ thống trần hang cao, rộng và sạch. Cấu trúc nền hang cũng có đặc điểm rất riêng, gồm hai tầng có thể quan sát qua nhiều điểm sụt lở. Hiện nay quá trình thành tạo trần và nền hang Sửng Sốt vẫn đang được các nhà khoa học nghiên cứu.

Một góc trần hang Sửng Sốt

3. Hang Bồ Nâu

Hang Bồ Nâu thuộc dạng hang nền với nền hang chia làm 2 mức cao là 3-5m và 7-10m so với mực nước biển hiện tại. Trước cửa hang là một dải trầm tích vỏ sinh vật dày từ 10 - 40cm, đây là sản phẩm tích tụ xác sinh vật được mang đến từ những khu vực xung quanh bởi sóng và dòng triều. Hang chia làm hai ngăn, măng nhũ đá ngăn trong phát triển hơn ngăn ngoài. Vì hang còn nguyên sơ, chưa bị tác động của con người nên du khách vào thăm hang sẽ cảm nhận được sự kỳ bí khi bước vào ngăn bên trong, nơi ánh sáng len lỏi chiếu vào qua khe đá, làm cho nhũ đá trở nên lung linh huyền ảo. Đặc biệt, trên đường rời hang, du khách sẽ được thưởng thức một bức tranh tuyệt vời khi ngắm nhìn vịnh Hạ Long qua cửa hang. Từng chùm nhũ đá rủ xuống từ trần hang càng làm cho khung cảnh thêm sinh động.

4. Hang Luồn

Hang Luồn được hình thành do sự phá hủy của nước biển và sóng triều hiện đại đối với phần chân đảo đá vôi mà phần phá hủy đã ăn xuyên sang phía đối diện. Hang có trần tương đối bằng phẳng, nằm cao hơn mức triều dâng, còn nền hang ngập dưới biển. Hang nối thông biển với một áng trong khu vực đảo Hang Trai, thực chất đây chính là một phễu karst bị ngập nước khi triều dâng cao, nước rút thành dòng chảy mạnh khi triều hạ. Đây cũng là đặc điểm địa mạo nổi tiếng của vịnh Hạ Long, thu hút sự quan tâm của du khách bốn phương.

5. Hang Hồ Động Tiên

Đây là một hang thuộc nhóm hang nền, với đáy hang nằm cao hơn mặt biển không nhiều.

Khác với tất cả các hang động khác trong khu vực vịnh Hạ Long, trong hang Hồ Động Tiên còn di tích của nhiều nền hang treo bên vách, có dạng những “gác xép” kéo dài. Đó là những phần mặt nền hang được cố kết tương đối chắc chắn bằng chất CaCO3 mà phần dưới nền đã bị xói mòn do dòng chảy ngầm xuất hiện trong hang qua hàng ngàn năm. Nếu nghiên cứu chi tiết các mảng sót của nền hang đó có thể tìm hiểu được chi tiết tiến trình dâng, hạ của mực nước biển Hạ Long trong kỷ Đệ Tứ. Điều đó có ý nghĩa lớn đối với việc khôi phục lịch sử địa chất của khu vực. Trong hang hiện có nhiều nhũ đá dạng cột rủ xuống chấm nền hiện tại, là cơ sở để đoán định rằng, phía dưới nền hiện tại còn có một nền hang cổ, và còn có nhiều măng đá mọc lên để đỡ những cột nhũ kể trên. Có điều, phân nửa hang phía dưới hiện vẫn bị trầm tích lấp đầy, chôn vùi toàn bộ những măng đá ấy. Đó cũng là một điều điều bí ẩn cần được khám phá.

Từ ngăn thứ hai của hang Hồ Động Tiên có hai cửa thông ra một  hồ nước, xung quang có núi đá vôi bao bọc. Người dân Hạ Long gọi những hồ nước kiểu này là áng. Thực chất đây là một phễu karst có phần đáy bị ngập nước. Đó là một loại môi trường sinh thái đặc biệt, vừa biệt lập vừa thông thương với biển thông qua hệ thống hang ngầm và khe nứt trong đá vôi. Vì thế, trong các áng thường có hệ sinh vật độc đáo, có thể gồm nhiều loài đặc hữu.

Các khối thạch nhũ trong hang vẫn giữ được nét nguyên khôi với hàng triệu tinh thể canxit lấp lánh chưa hề bị ảnh hưởng bởi con người. Sự long lanh kỳ diệu của thạch nhũ dồn về góc phía trong của ngăn thứ 3, nơi có một chùm nhũ lớn rủ xuống bên một thành tạo mà thiết nghĩ không có tên gọi nào hợp hơn là Chén Ngọc. Nó thể hiện như một miệng núi lửa nhỏ xinh, bên trong lấp ló 1 viên ngọc. Viên ngọc được ngâm trong thứ “nước Thánh” tinh khiết. Mầu nâu hồng của khối nhũ được kết bằng hàng triệu tinh thể canxit phản chiếu ánh sáng long lanh, huyền ảo.

6. Hang Tiên Ông

Hang Tiên Ông thuộc nhóm hang nền, dạng ống, nằm ở độ cao 5 - 10m so với mực nước biển, được hình thành do quá trình xâm thực mở rộng ngang tại mực cơ sở. Trong hang có nhiều cột măng nhũ đá lớn và đẹp, đặc biệt là hệ thống cột nhũ đá ở trung tâm hang, ngăn cách ngăn ngoài và ngăn trong, như một cột trụ chống đỡ cả mái vòm, được chạm trổ tinh xảo bởi tự nhiên. Cách vách hang cũng được các dòng kết tủa canxit thành tạo như những bức tranh đá nhiều màu sắc cùng những bức rèm đá màu nâu vàng. Hệ thống măng nhũ đá ở ngăn ngoài hầu hết đã ngừng phát triển và bị bao phủ bởi một lớp rêu xanh, nhưng ngăn trong vẫn có nước chảy từ các khe nứt từ trần hang xuống nên măng nhũ đá vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Du khách đến đây có thể chiêm ngưỡng hiện tượng thiên nhiên này.

7. Hang Hồ Ba Hầm

Hồ Ba Hầm thuộc dãy đảo Đầu Bê, là một trong ba đỉnh tam giác thuộc khu vực bảo vệ tuyệt đối của Di sản Thiên nhiên Thế giới vịnh Hạ Long. Hồ Ba Hầm thực chất là một hệ thống gồm ba hang luồn nối thông biển với các áng trong đảo Đầu Bê. Các hang luồn có chiều dài từ 60 – 150m, uốn khúc quanh co khơi gợi trí tò mò của du khách. Khung cảnh thanh bình và yên ả trong các áng mà thực chất là các phễu karst bị ngập chìm trong nước biển mở ra khiến du khách không khỏi ngỡ ngàng.

8. Hòn Xếp

Hòn Xếp nằm ở trung tâm một khu vực được ví như một bảo tàng địa chất ngoài trời của vịnh Hạ Long với những hòn đảo được thành tạo từ những lớp đá nằm ngang đẹp mắt và bền vững. Đến đây du khách có thể leo núi để được tự mình chạm tay vào các lớp đá vôi vuông vắn đều đặn, tìm kiếm những hóa thạch biển ẩn giấu trong đá và ngắm nhìn khung cảnh thanh bình được mở rộng ra dưới tầm mắt.


Hòn xếp


 

 

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4

C¸c th¸p Karst trªn VÞnh H¹ Long

 
Hiện có 50 khách Trực tuyến

SƯU TẬP ẢNH

Bảng quảng cáo

ÂM NHẠC

VIDEO CLIP