Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Giá trị sinh học

Imprimer
There are no translations available.

I. MỘT SỐ THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN:

1. Hệ sinh thái: Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin.

Hệ sinh thái có thể hiểu là bao gồm quần xã sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) và môi trường vô sinh (ánh sáng, nhiệt độ, chất vô cơ...)

2. Loài: Loài là một nhóm các cá thể sinh vật có những đặc điểm sinh học tương đối giống nhau và có khả năng giao phối với nhau và sinh sản ra thế hệ tương lai.

3. Gen (gien) là một đoạn DNA mang một chức năng nhất định trong quá trình truyền thông tin di truyền.

4. Đa dạng sinh học: Theo Công ước đa dạng sinh học 1992: Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng các hệ sinh thái).

- Đa dạng di truyền (đa dạng gen) là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể.

- Đa dạng loài là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê.

- Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó.

5. Ngành động vật thân mềm (còn gọi là nhuyễn thể hay thân nhuyễn) là một ngành trong phân loại sinh học có các đặc điểm như cơ thể mềm, có thể có vỏ đá vôi che chở và nâng đỡ, tùy lối sống mà vỏ và cấu tạo cơ thể có thể thay đổi. Ngành Thân mềm có nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú và là nhóm động vật biển lớn nhất chiếm khoảng 23% tổng số các sinh vật biển đã được đặt tên. Một số loài tiêu biểu: trai, sò, ốc, hến, ngao, mực, bạch tuộc, giun... Ngành thân mềm gồm: lớp chân bụng, chân đầu, hai mảnh vỏ, một mảnh vỏ...

5.1. Hai mảnh vỏ: là các loài động vật thân mềm có hai mảnh vỏ như ngao, hàu, hà, trai, hến...

5.2. Một mảnh vỏ: gồm các loài động vật thân mềm có 1 mảnh vỏ như: ốc, sên.

6. Giáp xác: là một ngành động vật mà thân có vỏ giáp, bao gồm tôm, cua, còng, cáy, ghẹ, bề bề...

7. Da gai: là một ngành động vật bao gồm huệ biển, sao biển, cầu gai, hải sâm, đuôi rắn.

8. Sinh vật đáy: là những quần xã sinh vật sống trên hoặc gần đáy biển.

9. Sinh vật phù du, hay phiêu sinh vật: là những sinh vật nhỏ sống trôi nổi hoặc có khả năng bơi một cách yếu ớt trong tầng nước ngọt, biển, đại dương. Các cá thể động vật phù du thường có kích thước quá nhỏ để có thể quan sát bằng mắt thường, nhưng một số khác có kích thước rất lớn như sứa. Sinh vật phù du gồm động vật phù du và thực vật phù du.

10. Động vật phù du: bao gồm các động vật nguyên sinh, giáp xác và rất nhiều các động vật nhỏ khác mà chúng cũng có thể sử dụng các plankton khác làm thức ăn. Zooplankton cũng bao gồm trứng và ấu trùng của một số loài động vật lớn như cá, giáp xác, giun đốt...

11. Thực vật phù du: bao gồm các nhóm tảo sống gần mặt nước nơi có đầy đủ ánh sáng cho quá trình quang hợp.

12. Lưu ý về danh pháp khoa học (tên khoa học) đi kèm: Hướng dẫn viên không cần thuộc danh pháp khoa học của từng loài. Danh pháp khoa học dùng tra cứu trên internet để biết được hình ảnh của loài động thực vật (bởi vì danh pháp khoa học của loài dùng được trên toàn thế giới, còn danh pháp tiếng việt sẽ khác nhau ở từng địa phương và từng quốc gia). Điều này giúp cho việc hiểu và nhớ kiến thức được dễ dàng.

II. GIỚI THIỆU VỀ GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VỊNH HẠ LONG

Vịnh Hạ Long nằm trong khu vực địa lý nối liền với vịnh Bái Tử Long và quần đảo Cát Bà tạo thành một quần thể biển đảo có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để hình thành một hệ thống đa dạng các Habitat (nơi sinh cư) biển và đảo. Đây chính là cơ sở để hình thành nên sự đa dạng sinh học cho vịnh Hạ Long. Các nhà khoa học đã đánh giá vịnh Hạ Long là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao.

Giá trị đa dạng sinh học của vịnh Hạ Long thể hiện ở sự đa dạng về các hệ sinh thái, đa dạng về nguồn gen quí hiếm và đa dạng về thành phần giống loài.

  1. Đa dạng về Hệ sinh thái:

Trong vùng Vịnh Hạ Long tồn tại 10 kiểu hệ sinh thái rất đặc thù của quần đảo đá vôi vùng nhiệt đới, bao gồm: 1) Hệ sinh thái thảm thực vật trên các đảo, 2) Hệ sinh thái tùng-áng, 3) Hệ sinh thái hang động, 4) Hệ sinh thái vùng triều đáy cứng, 5) Hệ sinh thái vùng triều đáy mềm, 6) Hệ sinh thái bãi triều cát, 7) Hệ sinh thái rừng ngập mặn, 8) Hệ sinh thái cỏ biển, 9) Hệ sinh thái vùng ngập nước thường xuyên ven bờ và 10) Hệ sinh thái rạn san hô[1].

1.1. Hệ sinh thái các thảm thực vật trên đảo:

Thảm thực vật trên đảo của vịnh Hạ Long là nơi sinh sống và phát triển của 507 loài thực vật (thuộc 351 chi, 110 họ thực vật bậc cao có mạch). Đặc biệt chú ý, trong số đó có 21 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam (1) và 17 loài thực vật đặc hữu được các nhà khoa học ghi nhận chỉ phân bố trong khu vực vịnh Hạ Long mà chưa được công bố ở nơi nào khác (2).

Do điều kiện địa hình tự nhiên, hệ sinh thái thảm thực vật trên các đảo vịnh Hạ Long được hình thành bởi 2 dạng thảm thực vật chính đó là: 1) Rừng trên các sườn và vách núi đá (3), 2) Rừng ở các thung lũng núi đá (4).

Với màu xanh ngát tự nhiên được điểm xuyết bởi sắc màu rực rỡ những loài hoa đua nhau khoe sắc 4 mùa, thảm thực vật tự nhiên đã góp phần tô điểm, thổi hồn và tạo nên sức sống cho các đảo đá vôi khô cằn của vịnh Hạ Long. Điều đó càng làm tôn lên giá trị địa chất - địa mạo nổi bật toàn cầu đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

*** Thông tin mở rộng:

(1) Danh mục 21 loài thực vật quý hiếm trên cạn đã được ghi nhận trong sách đỏ có phân bố trên vịnh Hạ Long gồm:

 


[1] Thứ tự các Hệ sinh thái được sắp xếp tương đối theo độ cao từ trên cạn xuống nước để dễ nhớ, dễ hình dung.

STT

Tên Việt Nam

Tên khoa học

Ghi chú

1

Quyển bá trường sinh

Selaginella tamariscina

 

2

Ráng duôi phụng bon

Drynaria bonii

 

3

Đài mác

Chroesthus lanceolata

 

4

Thôi chanh bắc

Alangium tonkinense

 

5

Sơn địch

Aristolochia indica

 

6

Hoa tiên

Asarum glabrum

 

7

Tiết căn

Sarcostemma acidum

 

8

Thư tràng

Gymnostemma pentaphyllum

 

9

Hoè bắc bộ

Sophora tonkinense

 

10

Mã tiền cà thây

Strychnos cathayensis

 

11

Mã tiền lông

Strychnos ignatii

 

12

Mã tiền hoa tán

Strychnos umbellata

 

13

Bình vôi đầu

Stephania cepharantha

 

14

Lá khôi

Ardisia sylvestris

 

15

Rau sắng

Meliantha suavis

 

16

Vương tùng

Murraya glabra

 

17

Bông mộc

Sinoradlkofera minor

Từ năm 2012 đến 2013, Ban quản lý vịnh Hạ Long thực hiện đề tài cấp cơ sở: ”Nhân giống và trồng thử nghiệm cây Bông mộc trên vịnh Hạ Long”. Kết quả: nhân giống thành công từ hạt và trồng được 100 cây Bông mộc con tại 2 điểm (hòn Núi Lướt, hòn Hang Sò thuộc khu vực Ba Hang) trên vịnh Hạ Long. Hiện tại, những cây Bông mộc con vẫn sống và phát triển tốt. Chiều cao đạt khoảng 1,5m.

18

Sến mật

Madhuca pasquieri

 

19

Trọng lâu nhiều lá

Paris polyphylla

 

20

Mần nghệ

Dioscorea collettii

 

21

Bách bộ

Stemona saxorum

 

(2) 17 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long gồm:

STT

Tên Việt Nam

Tên khoa học

Ghi chú

1

Ngũ gia bì hạ long

Schefflera alongensis

 

2

Cọ hạ long

Livistona halongensis

- Từ năm 2007 - 2009, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã thực hiện đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu thử nghiệm nhân giống và trồng bảo tồn Cọ hạ long trên vịnh Hạ Long”, trong đó, đã nhân giống và trồng thành công được 150 cây cọ Hạ Long tại đảo Cát Lán (thuộc trung tâm bảo tồn Công viên hang động) và vụng Tùng Sâu (trên đảo Hang Trai thuộc khu vực trung tâm bảo tồn Văn hóa biển). Hiện tại, các cây cọ Hạ Long đã thích nghi và phát triển rất tốt, chiều cao đạt khoảng trên 1m. Bên cạnh đó, còn thực hiện cắm biển khoanh vùng bảo tồn 2 quần thể cọ tự nhiên có số lượng cá thể tập trung nhiều, đó là: khu vực hòn Chân voi (thuộc trung tâm bảo tồn Công viên Vạn cảnh) và khu vực hòn Tùng Lâm, Đại Thành (thuộc khu vực Trung tâm bảo tồn công viên hang động).

3

Tuế hạ long

Cycas tropophylla

 

4

Bóng nước hạ long

Impatiens halongensis

 

5

Cầy ri một cặp

Chirita gemella

 

6

Cầy ri hạ long

Chirita halongensis

 

7

Cầy ri hiệp

Chirita hiepii

 

8

Cầy ri ôn hoà

Chirita modesta

 

9

Song bế hạ long

Paraboea halongensis

 

10

Nô hạ long

Neolitsea alonngensis

 

11

Sung hạ long

Ficus superba var. alongensis

 

12

Cơm nguội chân

Ardisia pedalis

 

13

Nhài hạ long

Jasminum alongensis

 

14

An điền hạ long

Hedyotis lecomtei

 

15

Ngoại mộc tai

Allophylus leviscens

 

16

Nan ông hạ long

Pilea alongensis

 

17

Riềng núi đá

Alpinia calcicola

 

- Chi tiết về từng loài thực vật (tên gọi, đặc điểm, khu vực phân bố, mùa hoa, hình ảnh...): tham khảo ấn phẩm tuyên truyền Thực vật vịnh Hạ Long (Ban quản lý vịnh Hạ Long chỉnh sửa và tái bản năm 2015).

(3) Thảm thực vật rừng trên các sườn và vách núi đá ở các đảo

Giữa hai sườn đông và tây các đảo, hệ thực vật sinh trưởng khác nhau. Sườn đông thường ẩm, nên hệ thực vật thường sinh trưởng tốt hơn. Sườn tây khô hơn nên hệ thực vật kém phát triển hơn. Trên các sườn dốc một số loài thường rụng lá vào mùa khô. Ở đây tồn tại kiểu rừng thấp, bao gồm các loài thực vật có chiều cao thấp, khoảng 1-2m, tạo nên thảm thực vật bao phủ các sườn và vách đảo. Thường gặp phổ biến các loài Huyết giác, Mang, Trôm, Ngũ gia bì Hạ Long, Tuế Hạ Long, Móng bò thơm...

(4) Rừng ở trong các thung lũng núi đá

Ở một số đảo, trong các thung lũng ít chịu ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, trên nền đá vôi có đất mùn, nên các loài thực vật ở đây phát triển xanh tốt, có những loài cao 15-20 m, đường kính 50-60 cm. Các thung lũng còn có rừng tốt gặp ở các đảo: Bồ Hòn, Lờm Bò, Tùng Lâm, Chân Voi, Cát Lán. Ở kiểu rừng này còn gặp các loài gỗ quý như Táu, Sến, các loài Dẻ, Vải guốc, Mang cụt, Ngát, một vài loài sung... Đặc biệt loài Chè đắng, trước đây chỉ mới gặp ở các vùng núi đá các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, gần đây có gặp ở đảo Bồ Hòn một quần thể có những cá thể chè đắng có đường kính thân tới 30 cm. Đây là loài cây thuốc quý, cần được bảo vệ.

1.2. Hệ sinh thái Tùng - Áng:

Hệ sinh thái tùng, áng là một kiểu HST đặc trưng, độc đáo của vùng biển có các đảo đá vôi như vịnh Hạ Long - Bái Tử Long - Cát Bà. Về nguồn gốc, hệ sinh thái tùng áng là những hố sụt Karst được tạo nên trong quá trình kiến tạo địa chất, được thông với biển bởi những cửa hẹp hay những hang luồn (có thể là hang ngầm dưới đất). Áng là hồ chứa nước Karst, nằm giữa các đảo, Tùng là vụng nước luôn có 1 cửa thông ra với vịnh, tương đối kín, ít sóng[1].

Hệ sinh thái tùng áng

Hệ sinh thái tùng áng nằm biệt lập với môi trường bên ngoài, xung quanh được bao quanh bởi các đảo đá vôi nên tĩnh lặng, không khí trong lành, thoáng mát, trên bờ là các thảm thực vật xanh ngát bao phủ, dưới nước là thế giới sống động của các loài sinh vật biển tạo nên một kiểu sinh cảnh đẹp, yên bình, khác biệt nên rất hấp dẫn và mở ra nhiều bất ngờ thú vị.

** Thông tin mở rộng:

Điểm đặc biệt của hệ sinh thái tùng áng là:

- Diện tích nhỏ, biệt lập, khác với các kiểu hệ sinh thái bên ngoài và ít bị tác động bởi các yếu tố sinh học từ bên ngoài.

- Thành phần loài của quần xã sinh vật HST tùng, áng khá đa dạng, cho đến nay đã phát hiện được trên 72 loài động, thực vật sống trong các áng, trong đó có 21 loài Rong, 37 loài thân mềm (19 loài thuộc lớp một mảnh vỏ và 18 loài thuộc lớp hai mảnh vỏ)[2], 8 loài Giáp xác, 6 loài Da gai và một số loài San hô.

- Quần xã sinh vật, đặc biệt là sinh vật sống đáy trong các tùng - áng đã có thời gian dài thích nghi với môi trường sống biệt lập tại đây nên phát triển khá ổn định và có nhiều loài mang đặc điểm khác biệt, đặc hữu so với các loài sinh vật khác bên ngoài[3].

- Thuận tiện cho nuôi trồng các loài hải sản[4].

1.3. Hệ sinh thái Hang động

Hệ sinh thái hang động cũng là một hệ sinh thái đặc thù của vùng biển đá vôi vịnh Hạ Long. Môi trường sống trong hang động thường rất đặc biệt và gần như khác hẳn với môi trường ngoài (thiếu ánh sáng, độ ẩm không khí cao, nguồn thức ăn tự nhiên nghèo, nhiệt độ ổn định quanh năm)[5] nên cấu trúc quần xã sinh vật nghèo hơn hẳn so với các HST khác trong khu vực. Tuy nhiên, các loài sinh vật sống trong hệ sinh thái hang động lại có ý nghĩa rất quan trọng: vừa là mẫu vật sống để nghiên cứu quá trình tiến hóa của sinh vật, vừa mang đặc trưng của quá trình lịch sử tiến hóa hàng nghìn năm của quần thể các đảo đá vôi Hạ Long và phần lớn đều là những loài đặc hữu cho khu vực.

Đến nay, các nhà khoa học mới nghiên cứu và xác định được khoảng trên 20 loài động vật[6] thường xuất hiện trong các hang động, trong đó, 2 loài cá và 6 loài giáp xác sống trong các vũng nước trong hang động được ghi nhận là các loại đặc hữu của VHL[7][8].  Trong số các loài động vật sống trong hang động thì loài dơi là loài phổ biến nhất. Chúng tập trung nhiều ở hang Đầu Gỗ, Thiên Long, Lâu Đài...

1.4. Hệ sinh thái vùng triều đáy cứng:

Hệ sinh thái vùng triều đáy cứng (hay còn gọi là Hệ sinh thái bãi triều rạn đá quanh các đảo) chủ yếu là các bãi triều có rạn đá phân bố quanh các chân đảo trong khu vực vịnh Hạ Long. HST này chiếm diện tích không lớn trong toàn vịnh Hạ Long. Nền đáy chủ yếu là các vách đá, các ngấn biển, đôi chỗ là những nơi đá cuội, đá tảng trượt từ trên núi xuống trải rộng từ 5 - 10m.

Do có nền đáy ít bị biến đổi nên môi trường trong HST này tương đối ổn định, có nhiều hang, hốc làm nơi trú ngụ và lẩn trốn kẻ thù nên thành phần loài của HST thái này rất phong phú và đa dạng với khoảng 423 loài sinh vật như rong biển, san hô, ốc, hai mảnh vỏ, bò sát, giáp xác... sinh sống và phát triển[9].

Mặc dù thành phần loài phong phú nhưng diện tích nhỏ nên giá trị nguồn lợi (năng suất) của sinh vật biển trong khu vực này không cao. Đáng chú ý có loài Rong mơ (Sarrgassum spp), các loài ốc, hàu nhưng cũng chỉ có giá trị phục vụ bữa ăn hàng ngày tại các chợ địa phương.

1.5. Hệ sinh thái vùng triều đáy mềm

Hệ sinh thái vùng triều đáy mềm là các bãi triều thấp quanh các đảo ven bờ vịnh Hạ Long. Dựa vào đặc điểm của nền đáy có thể chia thành 2 kiểu: kiểu bãi triều là cát bột, bùn sét tiếp giáp với RNM; kiểu cồn cát, doi cát nổi lên ở phía ngoài cửa sông. HST vùng thấp triều có môi trường sinh thái phức tạp, biến đổi theo mùa và theo thời gian trong ngày, theo con nước triều khá lớn.

Do điều kiện môi trường của HST đáy mềm cửa sông phức tạp nên thành phần loài của quần xã sinh vật nghèo hơn so với vùng triều các đảo xa bờ. Quần xã sinh vật ở đây được chia thành 2 nhóm khác nhau: Nhóm sống định cư trên bãi triều bao gồm các loài động vật đáy; rong biển, cỏ biển, cá biển, và nhóm sống trong tầng nước di cư theo thuỷ triều bao gồm: Thực vật phù du, Động vật phù du, Cá biển. Ngoài ra một số loài động vật có xương sống cũng sinh sống, kiếm ăn trên vùng bãi triều cửa sông khi triều rút như rắn nước, chim nước.... Tuy thành phần loài của quần xã sinh vật trên vùng thấp triều đáy mềm ngheo nàn hơn vùng đảo xa bờ nhưng trên vùng này lại hình thành nhiều bãi hải đặc sản quan trọng và trữ lượng cao, sản lượng khai thác lớn[10].

1.6. Hệ sinh thái bãi triều cát

Hệ sinh thái bãi triều cát là bãi triều cát ven các hõm đảo nhỏ, một số vùng bãi cát được che chắn và có rạn san hô phát triển phía dưới. Mặc dù số lượng bãi triều cát khá nhiều nhưng do địa hình đảo đá vôi thường có vách đá dựng đứng nên các bãi đều nhỏ, độ dốc lớn, cấu tạo bởi cát vỏ sinh vật như san hô, thân mềm (ốc, ngao, trai..). Bãi thường bị phơi khi thủy triều xuống.

Thành phần loài sinh vật trên các bãi triều cát khá nghèo nàn so với các kiểu hệ sinh thái khác và giá trị nguồn lợi không cao. Đặc điểm cơ bản của các bãi triều cát là hầu như không có sự phân bố của sinh vật theo đới do nền đáy không ổn định[11]. Một số loài động vật bắt gặp trong hệ sinh thái này như: cua ma[12], dã tràng[13], giun nhiều tơ, hai mảnh vỏ, ốc, giáp xác và da gai, tổng cộng đã phát hiện được khoảng 116 loài sinh vật trên các bãi triều cát trong vùng.

1.7. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM):

Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái quan trọng, đây là nơi sinh cư của nhiều loài hải sản có giá trị trong khu vực vịnh Hạ Long. Hiện nay, RNM tập trung chủ yếu tại vùng đệm phía Tây và Đông Bắc của khu Di sản, kéo dài từ xã Lê Lợi, Thống Nhất thuộc huyện Hoành Bồ, Hà Tu, Tuần Châu, Đại Yên thuộc tp Hạ Long. Trong vùng lõi của Di sản, RNM phân bố với diện tích hẹp tại một số chân đảo như Đầu Gỗ, vụng Ba Cửa, làng chài Cống Đầm...

Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Khu vực VHL và vùng phụ cận có 30 loài thuộc 23 họ thực vật ngập mặn chiếm khoảng 32% thành phần loài của TVNM Việt Nam. Những loài nổi trội như Mắm quăn, Sú, Vẹt dù, Trang, Đước vòi, Vạng hôi[14],… RNM tại vịnh Hạ Long là nơi nuôi dưỡng ấu trùng và sinh cư của 500 loài sinh vật khác nhau cùng sinh sống như: rong biển, cỏ biển, động vật đáy, cá biển, bò sát, chim, động vật có vú... Theo Danh lục đỏ Việt Nam đã thống kê được 3 loài ốc, 3 loài bò sát, 3 loài chim và 1 loài thú sinh sống trong RNM tại vịnh Hạ Long. Một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao như Ngán, Sá sùng, Bạch tuộc (ruốc), sò, cua...[15]

** Thông tin mở rộng:

Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn:

1- Đây là nơi nuôi dưỡng và sinh trưởng của nhiều loài động thực vật trong cả vòng đời hay một giai đoạn nào đó trong vòng đời của chúng, trong đó rất nhiều loài có giá trị thực phẩm cao như tôm, cua, sò, ngán, bạch tuộc, cá,… Các nhà khoa học còn chia động vật thành 2 nhóm: nhóm “định tại cư chỗ” là những loài sống suốt đời trong RNM; nhóm “di cư” gồm những loài vào RNM để kiếm ăn và đi đẻ. Do mất RNM mà hiện nay Hạ Long phải nhập rất nhiều loài đặc sản trên từ các vùng khác về để cung cấp cho các nhà hàng hải đặc sản cũng như cuộc sống hàng ngày của nhân dân địa phương;

2- Rừng ngập mặn còn là nơi cung cấp một phần chất đốt cho con người. Đặc biệt là những làng xã vùng sâu, vùng xa nơi đi lại khó khăn. RNM cung cấp phấn hoa chất lượng cao cho các đàn ong nuôi trong khu vực, nổi tiếng như khu vực Hoàng Tân, Đại Yên;

3- Cây, lá của RNM khi rụng xuống sẽ phân huỷ thành các chất mùn bã hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cho thuỷ vực. Đây là nguồn thức ăn có giá trị cho các loài Thân mềm (ốc, sò, bông thùa, hà...)  ăn lọc sống trong và xung quanh RNM. Một phần mùn bã được dòng triều đưa ra khỏi rừng ngập mặn trữ thành thức ăn cho các loài động vật sống trong tầng nước.

4- Các thảm rừng ngập mặn còn là các nhà máy của tự nhiên tham gia vào quá trình xử lý các chất thải lòng từ các khu dân cư. Sau khi đi qua rừng ngập mặn, một phần các chất ô nhiễm vô cơ và hữu cơ được các sinh vật trong thảm RNM phân huỷ, trở thành các chất dinh dưỡng cho cây ngập mặn và làm giảm ô nhiễm môi trường nước biển. Hiện nay, dọc TP. Hạ Long không còn dải RNM nên nước thải đã đổ thẳng ra biển;

5- RNM với hệ thống rễ dày đặc, chằng chịt nên tham gia rất tích cực vào quá trình lắng đọng bồi tích, mở rộng quỹ đất cho vùng ven biển, đồng thời làm giảm tác động của sóng, bão;

1.8. Hệ sinh thái thảm cỏ biển:

Là một hệ sinh thái biển quan trọng. Các thảm cỏ biển là nơi ương nuôi ấu trùng và định cư của nhiều loài tôm, cua, cá; đồng thời, hệ sinh thái cỏ biển còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định nền đáy và xử lý nước thải. Theo một số nghiên cứu trước đây, khu vực vịnh Hạ Long - Cát Bà đã phát hiện được 5 loài cỏ biển. Tuy nhiên, hiện nay diện tích các thảm cỏ biển tại vịnh Hạ Long đã bị thu hẹp nhiều do các công trình lấn biển, các vùng ven bờ hầu như không còn các bãi cỏ biển, do đó, không phát huy được giá trị của hệ sinh thái này.

Hệ sinh thái thảm cỏ biển

** Thông tin mở rộng:

1. Hiện trạng phân bố thảm cỏ biển: Trước năm 1985, cỏ biển khá phổ biến ở vịnh Hạ Long, đặc biệt là vùng Cao Xanh, Hồng Hải, Hùng Thắng, Tuần Châu,  nhóm đảo Đầu Mối (20 ha), trước cửa hang Đầu gỗ (5 ha) và Phù Long (200 ha), Gia Luận (100ha). Nhưng hiện nay, ngay tại Đầu Gỗ cũng không thấy cỏ biển. Như vậy có thể thấy, thảm cỏ biển hoàn toàn không còn tồn tại ở Vịnh Hạ Long

2. Vai trò và giá trị của hệ sinh thái cỏ biển ở Hạ Long:

- Là nơi nuôi dưỡng và sinh trưởng của nhiều loài tôm, cua, cá và nguồn giống của chúng.

- Lá cỏ biển là nguồn phân bón có giá trị cho nông dân trong việc trồng trọt một số loại nông sản... là thức ăn cho các loài động vật biển; sau khi phân huỷ, chúng thành mùn bã hữu và là thức ăn có giá trị cao cho các loài ăn lọc,...

- Các thảm cỏ biển cũng có vai trò trong việc ổn định nền đáy, xử lý nước thải như RNM. Tuy nhiên ở quanh vịnh Hạ Long diện tích của các thảm cỏ biển nhỏ nên vai trò của chúng rất hạn chế.

1. 9. Hệ sinh thái vùng ngập nước thường xuyên ven bờ:

Hệ sinh thái vùng ngập nước thường xuyên ven bờ là phần mặt nước có độ sâu 0 - 20m. Đây là một khối nước tương đối đồng nhất, nên khu hệ sinh vật bao gồm nhiều nhóm loài khác nhau như Thực vật phù du, Động vật phù du, Động vật đáy, Cá biển, Bò sát, giáp xác, thân mềm... Trong đó rất nhiều loài có giá trị kinh tế như cua biển, tôm he, cá vược, …

1.10. Hệ sinh thái rạn san hô:

Hệ sinh thái rạn san hô tại vịnh Hạ Long được cấu tạo chủ yếu bởi các loài san hô cứng[16]. Theo khảo sát năm 2015[17], trên vịnh Hạ Long có 110 loài san hô. Khu vực tập trung nhiều san hô nhất trên VHL là khu vực Cống Đỏ, Trà Sản, Hang Trai, Đầu Bê (có độ phủ từ 30% - 45%). Nhờ có môi trường tương đối ổn định, có nhiều hang hốc để trú ngụ và lẩn tránh kẻ thù, rạn san hô vịnh Hạ Long là nơi sinh sống của rất nhiều loài sinh vật khác nhau như: Thực vật phù du, Động vật phù du, Rong biển, Giun đốt, Bọt biển, Thân mềm, Giáp xác, Da gai, Cá biển[18]. Một số loài có giá trị kinh tế quan trọng của HST rạn san hô như Tu hài, Sò lông, cá Song, cá Mú, Trai ngọc, Tôm hùm...

Ngoài các loài có giá trị kinh tế, trên rạn san hô còn phân bố nhiều loài bị đe doạ tuyệt chủng, quý hiếm nằm trong Danh lục đỏ Việt Nam, 2007 như Rong chân vịt nhăn, cá Ngựa gai, cá Ngựa nhật, cá Ngựa đen, San hô sừng cành dẹp, San hô lỗ đỉnh xù xì, San hô lỗ đỉnh, Bào ngư chín lỗ, Sam ba gai đuôi, ốc đụn đực, ốc đụn cái, ốc xoắn vách, Trai ngọc môi đen, Mực thước, Mực nang vân hổ….

Có thể nói, vịnh Hạ Long là một trong số ít khu vực có địa hình tự nhiên đa dạng và tồn tại nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau mang đặc trưng của vùng đá vôi phát triển trong môi trường biển. Một số HST mang điển hình như: hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái hang động, hệ sinh thái thảm thực vật trên đảo, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái RNM.  Chính sự đa dạng về các hệ sinh thái đã tạo nên các nơi sinh cư khác biệt trong cùng một khu vực địa lý, đây là điều kiện lý tưởng để hình thành nên một số lượng loài sinh vật và các giá trị nguồn gen đặc hữu, quý hiếm.

2. Đa dạng về thành phần loài:

Thế giới sinh vật tại vịnh Hạ Long rất đa dạng và phong phú, ở đây tập trung đầy đủ thành phần các loài sinh vật trên cạn, dưới nước, bậc thấp, bậc cao cùng sinh sống trong 10 hệ sinh thái biển và rừng khác nhau.

Đến nay đã thống kê được gần 3.000 loài động thực vật sống trong khu vực, trong số đó có 507 loài thực vật trên cạn, 278 loài thực vật phù du, 141 loài động vật phù du, 110 loài san hô, 156 loài cá biển, 71 loài chim, 53 loài thú...

Sự đa dạng về thành phần loài trên cạn, dưới nước đã nói lên bức tranh đa dạng sinh học của vịnh Hạ Long, đưa vịnh Hạ Long trở thành khu vực có số lượng loài nhiều nhất đã biết ở Việt Nam.

3. Đa dạng nguồn gen:

Vịnh Hạ Long không chỉ có số lượng thành phần loài đa dạng, phong phú mà rất nhiều loài còn mang những giá trị về nguồn gen có nguy cơ tuyệt chủng được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007 và nguồn gen quí hiếm, đặc hữu còn ít được biết đến.

3.1. Nhóm sinh vật bị đe dọa tuyệt chủng

Dựa trên tài liệu thu thập được và đối chiếu với Sách Đỏ Việt Nam xuất bản năm 2007 đã xác định được 102 loài đang bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau bao gồm 64 loài động vật và 38 loài thực vật.

Những loài động vật tiêu biểu như: Bào ngư chín lỗ, Ốc đụn cái, Cá song vân giun, Cá Bống bớp, Trăn đất, Rắn hổ chúa, Quản đồng, Rùa da, Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Cá cúi...

Những loài thực vật tiêu biểu như: Rong chân vịt nhăn, Rong sừng ngắn, Rong mơ mềm... sống dưới nước và 21 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam[19] sống trên các đảo đá vôi.

3.2. Các nhóm sinh vật đặc hữu còn ít được biết đến ở Vịnh Hạ Long

Mặc dù khu vực Vịnh Hạ Long đã được điều tra khá kỹ những vẫn còn những nhóm sinh vật còn ít được biết đến. Tuy số lượng rất ít nhưng hầu hết đều mang nguồn gen đặc hữu của vịnh Hạ Long, một số loài động vật tiêu biểu như: Bọt biển, cá Niếc hang Hạ Long, cua hang Hạ Long, tôm Alpheoid, Rết chân dài, loài Cuốn chiếu mai, rệp hang, Nhện, rệp tròn. Đặc biệt có 17 loài thực vật đặc hữu đã được công bố[20].

Đa dạng về nguồn gen đã khẳng định được sự khác biệt của Hạ Long so với các vùng khác trong khu vực. Những nguồn gen đặc hữu, quý hiếm và ít được biết đến mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với khoa học, đây là những mẫu vật sống phục vụ cho việc nghiên cứu quá trình tiến hóa, phát triển của sinh vật mang những đặc trưng riêng về môi trường sống của khu vực.

III. MỘT SỐ GIÁ TRỊ NGUỒN GEN CỦA CÁC LOÀI ĐỘNG THỰC VẬT VỊNH HẠ LONG

- Nguồn gen làm dược liệu: có thể nói rằng cả khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long – Cát Bà là một kho dược liệu tự nhiên, sơ bộ ước tính khoảng 357 loài cây cỏ và gần 100 động vật có thể làm thuốc được.  Nguồn gen động vật làm thuốc có tại Hạ Long như: Ong đen, Hải mã, Bìm bịp, Xuyên sơn giáp... Nguồn gen thực vật làm thuốc: Rong cải biển nhăn, rong đại bò, rong mơ, cốt toái bổ, kinh giới đất, rong đen...

- Nguồn gen là sinh vật có giá trị kinh tế cao: Vịnh Hạ Long có môi trường phú dưỡng và có nhiều sinh cư độc đáo nên có nhiều điều kiện cho các loài đặc sản sinh sôi và phát triển. Nguồn gen quý hiếm là đặc sản để làm thực phẩm, mỹ nghệ xuất khẩu: Bào ngư, ốc đụn, ốc hương, ốc nhảy, sò, tu hài, tôm he, cua, hải sâm, trai ngọc, cá song...[21]

IV. GIỚI THIỆU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH

1. Dãy đảo Đầu Gỗ

Dãy đảo Đầu Gỗ là một trong những khu vực lớn trên vịnh Hạ Long gồm có nhiều đảo nhỏ với diện tích không lớn. Khu vực này có nhiều nhất các hệ sinh thái chính của vịnh Hạ Long như: HST Rừng ngập mặn, HST Hang động, Hệ sinh thái Tùng - Áng, Hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái thảm thực vật trên đảo... Do đó, khu vực này cũng được đánh giá là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao và đầy đủ so với các khu vực khác trên vịnh Hạ Long. Đối với các thảm thực vật trên các đảo, độ che phủ không tốt bằng các nhóm đảo khác nhưng hình thức che phủ lại dàn đều trên bề mặt núi đá. Đáng chú ý có quần thể Bông mộc tại khu vực Ba Hang, quần thể Cọ Hạ Long tại khu vực đảo Chân Voi, một số loài thực vật đặc hữu như Cầy ri Hiệp, Cầy ri một cặp tại hang Ba Hang... Bên cạnh đó còn tập trung một số loài chim với số lượng cá thể đông như Bông lau Trung Quốc, Chích bông đuôi dài, Chim sâu vàng lục, Vành khuyên, Dơi... Sự rực rỡ của các loài thực vật trên các dãy đảo đá vôi vào mùa ra hoa cùng mới sự sống động của những loài động vật xuất hiện tại khu vực này đã tô điểm và tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt cho khu vực dãy đảo Đầu Gỗ.

- Năm 2011, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu trồng bổ sung nguồn thức ăn cho loài Khỉ vàng” tại đảo Đầu Gỗ. Những loài cây ăn quả đã được trồng là: Chuối, ổi, khế, quất hồng bì với mục đích tạo nguồn thức ăn cho loài khỉ trên đảo đá vôi.

- Năm 2013, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã thực hiện thành công đề tài: “Nghiên cứu nhân giống và trồng bảo tồn cây Bông mộc trên vịnh Hạ Long”. Đề tài đã thực hiện trồng được 100 cây Bông mộc con được nhân giống từ hạt tại đảo Núi Lướt và hòn Hang sò thuộc khu vực Ba Hang.

2. Động Thiên Cung:

Quần xã động thực vật tại khu vực  động Thiên Cung tập trung chủ yếu tại sườn núi trước cửa hang. Tại đây, ngoài những vách đá vôi còn có một khu vực thung lũng nhỏ có lớp đất dày, độ dốc thoải là nơi sống của một số loài động thực vật như: Riềng Hạ Long (thực vật đặc hữu), màng kiên, sảng, bông mộc... Khu vực này cũng xuất hiện một số loài động vật như: Khỉ, chim, rắn, tắc kè, kỳ nhông...

Trong động Thiên Cung, tại vị trí cổng trời là điểm giao thoa ánh sáng với không gian bên ngoài, ở đây cũng thường xuyên bắt gặp chim, dơi đến trú ngụ.

3. Hang Đầu Gỗ

Khu vực hang Đầu Gỗ là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao, ở đây tập trung các hệ sinh thái chính: Hệ sinh thái vùng ngập nước thường xuyên ven bờ, HST rừng ngập mặn, hệ sinh thái hang động và hệ sinh thái thảm thực vật trên các đảo. Số lượng loài động thực vật tại khu vực hang Đầu Gỗ khá đa dạng.

Trong hang có các vũng nhỏ đọng nước vào mùa mưa là nơi sinh sống của những loài động vật sống trong hang động đặc trưng ở khu vực Hạ Long như bọ chét nước, giun đất, nhện, rệp nhiều chân... Gần cửa hang xuất hiện loài dơi với số lượng động thường tập trung đông vào chiều tối và sáng sớm.

Bên ngoài hang có sự bao phủ của thảm thực vật xanh ngát với một số loài đáng chú ý như: Giềng Hạ Long, cọ Hạ Long, ngũ gia bì, phất dụ núi, hài vệ nữ hoa vàng, sảng, trám, hòe bắc lá vàng, màng kiên, bồ đề, khổ cự đại tím, khoai nưa hoa chuông, tiết căn, hồ da Hạ Long, thu hải đường, móng bò thơm..

Giá trị về đa dạng sinh học tại hang Đầu Gỗ còn đặc biệt hơn những khu vực khác bởi sự xuất hiện của một diện tích rừng ngập mặn ngay dưới chân đảo. Đây còn là nơi sống và đẻ trứng của rất nhiều những loài hải sản nổi tiếng của Hạ Long như: ngán, ngao, sò, ốc, cá bống bớp, cá nhệch, tôm, cua vừa có giá trị kinh tế vừa là nguồn cung cấp thực phẩm cho nhân dân quanh vùng.

4. Hang Sửng Sốt:

Hang Sửng Sốt là một trong những địa điểm chính được nghiên cứu về hệ sinh thái hang động trên vịnh Hạ Long. Hệ sinh thái thảm thực vật trên đảo tại đây cũng có những giá trị đặc biệt đáng chú ý.

Theo báo cáo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường đại học Ljubljana, Slovenia, bên cạnh những loài động vật thường sống trong các hang động điển hình của vịnh Hạ Long thì hang Sửng Sốt còn xuất hiện loài cua hang Hạ Long, đây là loài đặc hữu Hạ Long và ít được biết đến có ý nghĩa rất lớn đối với khoa học.

Hang Sửng Sốt còn là nơi tập trung nhiều loài thực vật tiêu biểu của Hạ Long. Tại cửa hang chủ yếu là các loài cây sống bám có rễ khoẻ và thích nghi được với điều kiện khô hạn như: Si, sanh, móng bò thơm và một số loài dây leo che phủ phía trước cửa hang tạo ra một không gian mát mẻ. Phong phú nhất là quần xã các loài động thực vật sống trong sinh cảnh sườn núi trước cửa hang và trải dài xuống đến chân đảo. Một số loài thực vật tiêu biểu như: sung, giềng, cọ Hạ Long, sảng , bông mộc, màng kiên, khổ cử đài tím, hồ da Hạ Long, tiết căn, thu hải đường... Đáng chú ý là tuế Hạ Long tập trung với số lượng lên đến vài trăm cá thể tạo thành quần thể đơn loài tập trung trên vách đá trước cửa hang Sửng Sốt. Đây là một loài thực vật đặc hữu của Hạ Long cần được bảo tồn và giới thiệu.

Bên cạnh đó, khu vực này cũng xuất hiện rất nhiều khỉ vàng thường xuyên xuống kiếm ăn và chơi đùa dưới chân đảo.

5. Áng Mê Cung:

Áng Mê Cung là một khu vực có hệ sinh thái Tùng - Áng tiêu biểu trên vịnh Hạ Long. Áng Mê Cung được lấy theo tên gọi của động Mê Cung. Đây là một hồ nước mặn tương đối kín, có chu vi khoảng 1.100m. Hầu hết các bờ bao của hồ là vách đá dựng đứng, chỉ có bờ phía Đông của hồ có một dải đất hẹp. Nền đáy hình lòng máng hướng về một cửa thông nằm ở phía Tây Nam, nhờ có cửa thông này mà mức nước trong lòng áng Mê Cung được lên xuống theo thủy triều hàng ngày. Từ mép bờ áng ra khoảng 3m là dạng rạn đá bùn, từ khoảng 3m trở ra có một dải san hô nhỏ. Giữa lòng áng chủ yếu là nền đáy bùn. Chính điều kiện tự nhiên này kết hợp với sự lặng gió, ít sóng trong áng đã hình thành nên một khu hệ sinh vật đáy biệt lập với bên ngoài, có thể kể đến là: San hô, Trai ngọc, Vẹm xanh, con Sút, Sò, rong Guột…

Trên bờ, thảm thực vật cũng phong phú và rất phát triển. Khu vực này tập trung khá đa dạng các loài thực vật của vịnh Hạ Long. Các loài thực vật đặc hữu của VHL  gồm có  Ngũ gia bì, Cọ Hạ Long, Sung Hạ Long, An điền Hạ Long, Riềng Hạ Long. Bên cạnh đó, ở đây còn xuất hiện một số loài cây ăn quả như Quất hồng bì, bứa... phát triển trên sườn xung quanh áng; cây làm thuốc: Cốt toái bổ, bình vôi, dây gắm. Đồng thời nơi đây cũng là nơi sinh sống của một số loài động vật như: kỳ nhông, khỉ và chim như: sáo đất, quạ đen, hoét, diều hâu…

6. Hang Bồ Nâu

Khu vực hang Bồ Nâu là nơi tập trung hệ sinh thái các thảm thực vật trên đảo và hệ sinh thái hang động. Môi trường sống trong hang động không đa dạng và tương đối nghèo do thiếu ánh sáng, độ ẩm không khí cao, nguồn thức ăn tự nhiên nghèo, nhiệt độ ổn định quanh năm nên quần xã sinh vật nghèo nàn hơn hẳn các hệ sinh thái khác. Nơi đây tập trung chủ yếu các loại côn trùng, chân khớp, thân mềm, dơi... Theo báo cáo nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường đại học Ljubljana, Slovenia, tại hang Bồ Nâu đã phát hiện ra loài rệp Pillbug có chiều dài 6mm, màu trắng sữa và không có mắt, khi bị tác động chúng cuộn cơ thể thành hình tròn.

Trước cửa hang có một bãi đá thoải nhỏ tập trung nhiều loài động vật thân mềm như: ốc giỗ, ốc vôi, ốc đĩa, sò lông, quéo, bàn mai... Thực vật tại hang Bồ Nâu không nhiều nhưng cũng có một số loài thực vật đặc hữu như: Tuế Hạ Long, cọ Hạ Long, Riềng Hạ Long, sung Hạ Long. Bên cạnh đó còn xuất hiện các loài thực vật khác như: trúc, phất dụ núi,… là những loài thực vật ưu thế tạo nên vẻ đẹp cho khu vực.

7. Hang Luồn

Hang Luồn là nơi có hệ sinh thái đặc trưng của VHL là HST Tùng, áng. Tại đây môi trường nước ổn định, không có sóng và rất trong sạch nên HST ở đây phát triển mạnh và mang những nét độc đáo riêng, trong đó có nhiều loài hải sản đặc trưng của vùng sinh sống và phát triển như: Rong, san hô, hà, sò lông và ngao...

Xung quanh đảo đá, hệ thực vật tại đây cũng rất phong phú và đa dạng. Đây cũng là một trong những khu vực đáng chú ý bởi sự xuất hiện của nhiều loài thực vật tiêu biểu của Hạ Long như: Phất dụ núi, đa lá nhám, bông mộc, thu hải đường, tra làm chiếu, dây đơn xương, lan kiếm... Một số loài thực đặc hữu như: cọ Hạ Long, thiên tuế HL, giềng Hạ Long, cầy ri Hiệp, cầy ri Hạ Long.

Hang Luồn còn đặc biệt hơn bởi sự xuất hiện và sinh sống của loài khỉ vàng (Macaca mulatta) với số lượng vài trăm con chia thành nhiều đàn khác nhau. Chúng thường xuyên xuất hiện và sinh hoạt tại khu vực này từ chân đảo đến sườn núi. Sự náo nhiệt của đàn khỉ đã gây sự chú ý và tò mò của du khách. Hiện nay, hang Luồn đã trở thành một điểm đến quen thuộc của khách du lịch với dịch vụ chèo đò xem khỉ vàng. Đàn khỉ cũng dần quen với sự xuất hiện của những vị khách nên rất thân thiện.

** Thông tin mở rộng:

Một số điểm đặc biệt của Khỉ vàng:

- Đặc điểm rất dễ nhận thấy ở Khỉ vàng đó là bộ lông dày, lưng nâu vàng  xám ở vai, lòng bàn tay không có lông thích hợp cho việc cầm nắm thức ăn và leo trèo. Tai tròn, lông mặt thưa, vùng dưới sườn quanh mông và nửa đùi trên nâu đỏ, quanh chai mông trần và không có lông.

- Khỉ vàng sinh sống và kiếm ăn từ chân núi sát mép biển đến các đỉnh núi cao trên các đảo đá vôi thuộc vịnh Hạ Long, chúng leo trèo rất giỏi bằng cách bám vào các vách núi đá vôi để di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Khỉ vàng thường sống thành bầy đàn, trong quần thể chúng có thể chia thành nhiều đàn dưới sự thống trị của một con đầu đàn.

- Khỉ vàng thường kiếm ăn vào buổi sáng (từ 8h đến 11h) và chiều (từ 15h đến 17h). Vào mùa hè, khỉ vàng thường kiếm ăn trước khi bình minh và ăn rất nhiều để có đủ năng lượng cho cả ngày hoạt động, chúng thường ngủ trên cây ngoài cửa hang; mùa lạnh ít hoạt động, nhu cầu về năng lượng giảm vì vậy chế độ ăn ít đi, chúng thường ngủ trong các hang hốc.

- Khỉ vàng là loài ăn tạp, thức ăn của chúng thường thay đổi tùy theo điều kiện sống, chủ yếu là thực vật, chồi lá non và một số loại hoa quả khác như ngô, khoai, sắn, đu đủ, đặc biệt Khỉ vàng rất thích ăn chuối. Bên cạnh đó, chúng còn ăn một số loài động vật như trứng chim, nhện, châu chấu, cào cào... và các loài hải sản dưới nước như tôm, cua, hà, vẹm...

- Với mục đích cung cấp thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho khỉ vàng vào mùa đông nhằm giữ chân chúng tại khu vực này, tránh các nguy cơ bị săn bắn trái phép khi phải di chuyển đi kiếm ăn tại những vùng khác, năm 2011, trong khuôn khổ thực hiện đề tài: “Nghiên cứu trồng bổ sung cây ăn quả tạo nguồn thức ăn cho bầy khỉ vàng trên vịnh Hạ Long”, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã lựa chọn hang Luồn là một điểm trồng cây. Một số cây trồng như: ổi, khế, quất hồng bì, chuối. Hiện nay, chuối tại khu vực này đã có quả để cung cấp thức ăn cho khỉ.

8. Hang Trống

Thực vật sống ở cửa hang chủ yếu là si, sanh, khổ cử đại tím, nho biển; thực vật đặc hữu có sung. Đặc biệt, cửa Tây Bắc có một diện tích nhỏ nền hang cách biệt với bên trong, có nền đất xốp tạo điều kiện cho một số loài thực vật phát triển như: Trúc, màng kiên, khổ cử đại móc, dương xỉ sống trên các khối đá tảng hoặc hốc nhỏ. Phía trên cửa hang là vi sinh cảnh vách đá, các loài thực vật ở đây luôn phải phơi mình dưới ánh nắng mặt trời và chịu tác động của những điều kiện khô hạn: Thiên tuế Hạ Long - loài thực vật đặc hữu của Hạ Long, bông mộc.

9. Hang Trinh Nữ

Là một trong những khu vực có hệ sinh thái hang động điển hình trên vịnh Hạ Long. Trong hang Trinh Nữ có một vũng nước mặn hóa, theo thống kê và tài liệu của Bois Sket và Peter Tronteli thuộc trường đại học Liubliana, Slovenia, vũng nước này có độ mặn khoảng 30‰ và có sự phân bố của loài tôm Alpheoid sống trong môi trường nước mặn. Một mẫu Calanoid copepod (nhóm động vật phù du chân mái chèo) cũng được tìm thấy tại đây, điều này rất thú vị vì nhóm này thường chỉ sống trong nước ngọt và rất ít khi được tìm thấy trong môi trường nước lợ hoặc nước mặn. Hệ động vật hang động của hang còn xuất hiện loài dơi và một số loài chim như sáo đá, nhạn biển đến trú ngụ.

Các loài thực vật tại đây không nhiều nhưng lại tập trung đa dạng thành phần loài. Thảm thực vật trước cửa hang xuất hiện nhiều loài thực vật đặc hữu hơn những khu vực khác như: an điền HL, cầy ri Hạ Long, tuế Hạ Long, giềng Hạ Long, sung Hạ Long, cơm nguội chân, đặc biệt là quần thể cọ Hạ Long với số lượng lớn tập trung tại vách núi phía sau hang. Tại cửa hang Trinh nữ xuất hiện rất nhiều khổ cử đài móc lá mềm (loài này chỉ xuất hiện vào mùa hè sau đó tàn lụi đi). Một số loài thực vật có giá trị khác như: lan hài vệ nữ hoa vàng, xuyên tâm thảo.

10. Hang Hồ Động Tiên

Hang Hồ Động Tiên có những hệ sinh thái điển hình của Vịnh Hạ Long đó là: Hệ sinh thái các thảm thực vật trên đảo, hệ sinh thái tùng áng và hệ sinh thái hang động. Điều kiện đọng nước, ẩm ướt, ít ánh sáng trong hang thuận lợi cho một số loài động vật như: Các loại ấu trùng, bọ chét nước, giun đất, thạch sùng... sinh sống; bên cạnh đó còn xuất hiện loài cua hang, một loài thực vật đặc hữu còn ít được nghiên cứu tại vịnh Hạ Long. Nơi đây không chỉ tập trung một số hệ sinh thái điển hình của vịnh Hạ Long mà còn là nơi sinh số ng của một s ố loài động thực vật đặc hữu như: Giềng Hạ Long, móng tai Hạ Long, thiên tuế Hạ Long, cọ Hạ Long. Chính vì vậy, khu vực này rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu giá trị đa dạng sinh học, đặc biệt là hệ sinh thái hang động, tùng, áng.

11. Đảo Ti Tốp (Đảo Cát nàng)

Khu vực đảo Ti tốp có giá trị đa dạng sinh học không cao, chủ yếu là thảm thực vật phân bố trên sườn thoải Đông Nam và Tây Nam của đảo. Sườn Đông Nam ngay chính diện đảo là lớp đất phong hoá nghèo và khô, vì vậy số lượng các loài thực vật tự nhiên không nhiều, dọc chân đảo có sung hạ long, tra làm chiếu, móng bò thơm. Cỏ tranh là loài chiếm ưu thế trên sườn núi. Sườn Tây Nam có lớp đất bề mặt dày, độ dốc thoải, độ phủ thực vật lớn hơn, chủ yếu là các loài thân gỗ nhỏ, có chiều cao trung bình, đặc biệt có sự xuất hiện của quần thể màng kiên với số lượng tương đối lớn phát triển trong vi sinh cảnh vách núi phía Nam của đảo. Trong sinh cảnh này còn xuất hiện một số loài động vật như: Bò sát, chim... đến trú ngụ.

Năm 2007, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm bảo tồn loài thực vật đặc hữu trên vịnh Hạ Long”, trong đó đã thử nghiệm chuyển vị được 5 cá thể cọ Hạ Long từ đảo Cát Lán sang trồng dọc đường đi lên đảo Ti tốp.

12. Đảo Soi Sim

Là một đảo đất trên vịnh Hạ Long, thảm thực vật đặc trưng trên đảo là Sim nên tên gọi của đảo thể hiện đặc trưng đó. Dưới chân đảo tập trung một số loài thực vật vịnh Hạ Long như: Đậu rào, móng bò thơm, sảng, sung hạ long, phất dụ núi….

13. Hang Tiên Ông

Hang Tiên Ông cũng là một trong những điểm đã được các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu về giá trị động vật hang động Vịnh Hạ Long. Môi trường trong hang tương đối ẩm thấp là điều kiện thuận lợi để một số loài sinh vật hang động sinh sống. Đặc biệt ở đây có một quần thể dơi thường xuyên đến trú ngụ.

Thảm thực vật trước cửa hang có sự phong phú về thành phần loài: tầng dưới chủ yếu là trúc và một số cây bụi nhỏ, phủ bên trên là một số dây leo. Sâu vào trong cửa hang, nơi có lớp đất dày hơn là sự xuất hiện của một số loài thực vật như khổ cử đại móc lá mềm, dương xỉ, sảng, khoai nưa hoa chuông... Đáng chú ý tại khu vực này có rất nhiều cọ Hạ Long, một loài thực vật đặc hữu của Hạ Long, những quần thể cọ Hạ Long tập trung trên các đảo đá xung quanh hang Tiên Ông tạo nên cảnh quan đặc sắc, lôi cuốn, đặc biệt vào mùa hoa cọ nở.

Vùng biển tại khu vực hang Tiên Ông ít chịu những ảnh hưởng của những ô nhiễm ven bờ, do đó có những thuận lợi về độ mặn và độ trong của nước để các loài san hô phát triển tạo điều kiện sinh sống cho một số loài động vật biển có giá trị như: Tôm, mực, cá mú, cá song... một số động vật thân mềm sống bám ven chân đảo như: Hà đá, cua đá, ốc…

14. Hồ Ba Hầm

Đây là nơi có hệ sinh thái tùng, áng đặc trưng của vịnh Hạ Long thông với biển bằng một hang ngầm lớn. Hồ Ba Hầm cũng là một khu vực có nhiều giá trị đa dạng sinh học độc đáo trên vịnh Hạ Long. Các áng bên trong của hồ ba hầm có môi trường nước ổn định, không có sóng nên lưu giữ được những giá trị sinh học nguyên vẹn và khác biệt với bên ngoài. Các loại sinh vật sống ở đây như sao biển; cá; một số loài thân mềm; vẹm xanh; đồi mồi, mực, san hô…, ngoài ra, còn có san hô, rong, tảo, hệ động thực vật đáy, hình thành nên các quần xã vô cùng phong phú. Để đánh giá được chính xác thành phần loài sinh vật trong hang ngầm tại Hồ Ba Hầm, từ năm 2015, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã phối hợp với Viện Tài nguyên và môi trường biển thực hiện đề tài cấp  tỉnh: “Nghiên cứu giá trị của các hang ngầm và hồ nước mặn tại vịnh Hạ Long”. Đề tài kết thúc vào năm 2017.

Hồ ba hầm là một điểm có lan hài vệ nữ hoa vàng tập trung với số lượng lớn. Năm 2015, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã tiến hành khảo sát và cắm biển khoanh vùng để theo dõi, kiểm tra và bảo tồn loài thực vật này trên vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó, khu vực này còn có một số loài thực vật có giá trị như: mông rô, cọ Hạ Long, tuế Hạ Long, phất dụ núi...

15. Áng Dù

Áng Dù hồ chứa nước karst - vùng núi đá vôi, có cảnh quan yên bình và thơ mộng, là áng tương đối kín có môi trường nước ít bị tác động bởi con người. Nền đáy được cấu tạo bởi cát hoặc cát pha sỏi và vỏ sinh vật, độ sâu từ 1,5-4m, trong suốt đến đáy. Trong áng được biết đến có 3 loài ốc biển, một số loài rong đỏ, rong nâu, rong lục và một số loài cá như cá Hè, cá Bống trắng sinh sống. Đặc biệt, trong áng có loài hải miên xanh phát triển đan vào nhau tạo thành những thảm rộng màu xanh trong lòng áng.

16. Rừng Trúc

- Rừng Trúc là tên gọi của một quần thể trúc đơn loài phát triển rất độc đáo trên đảo Hang Trai, cạnh khu Trung tâm văn hóa nổi Cửa Vạn. Trúc ở đây phát triển nhiều và đan chéo vào nhau tạo thành những lối đi dạng vòm mát rượi.

Sâu vào trong mở ra bãi đất rộng vì vậy khỉ vàng tập trung sinh sống, chơi đùa và kiếm ăn rất đông tại đây. Khu vực này còn được chú ý bởi một quần thể củ bình vôi phát triển. Thảm thực vật trên núi đá vôi tại đây cũng tương đối phong phú, đáng chú ý có cọ Hạ Long, tuế Hạ Long, phất dụ núi, ngũ gia bì...

- Một số đề tài khoa học được thực hiện tại khu vực này:

+  Năm 2007 – 2009: Đề tài “Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, khả năng bảo tồn và phát triển loài Cọ đặc hữu Vịnh Hạ Long”

+ Năm 2011: Đề tài “Bổ sung nguồn thức ăn cho loài Khỉ vàng trên Vịnh Hạ Long” nhằm tạo môi trường sống và làm phong phú nguồn thức ăn cho loài khỉ, từ đó có thể bảo tồn được loài này một cách tự nhiên mà không làm ảnh hưởng đến đặc tính sinh học của chúng.

17. Cống Đỏ

Cống Đỏ là một trong những địa điểm có Hệ sinh thái rạn san hô phát triển. Chiều dài rạn san hô hơn 700m, chiều ngang gần 300m Theo khảo sát đánh giá mới nhất vào năm 2015, Cống Đỏ là một trong những điểm có độ phủ san hô cao nhất trên vịnh Hạ Long, đạt trên 30%, chủ yếu là san hô cứng. Độ phủ san hô cao đồng nghĩa với số lượng các loài động thực vật sống trong rạn cũng rất phong phú, một số loài hải sản sống trong rạn san hô có giá trị dinh dưỡng và kinh tế như Tu hài, Sò lông, cá Song, cá Mú, Trai ngọc, tôm he... Hiện nay, công tác bảo tồn các rạn san hô tại khu vực này được thực hiện rất tốt đã tạo nên một điểm du lịch hấp dẫn.

18. Khu sinh thái Tùng Áng – Cống Đỏ

Các áng tại khu vực Cống Đỏ cũng có những đặc điểm chung của hệ sinh thái tùng áng trên vịnh Hạ Long. Hầu hết các áng tại khu vực Cống Đỏ nằm sâu trong giữa các dãy núi đá vôi và cao hơn so với các nơi khác, độ mặn của nước trong áng không cao, nền đáy của các áng chủ yếu là bùn pha cát và hầu như ít bị tác động bởi các yếu tố sinh học từ bên ngoài. Các loài sống chủ yếu trong các áng là rong, ốc, nhóm 2 mảnh vỏ, tôm… Một số loài sống trong khu vực phát triển với số lượng lớn tạo ra nét đặc trưng riêng cho áng. Áng có rất nhiều cá rô được đặt tên là áng cá rô, áng có rất nhiều cá hồng được đặt tên là áng cá hồng…

Để làm rõ hơn về giá trị đa dạng sinh học trong các áng, từ năm 2015, Ban quản lý vịnh Hạ Long phối hợp với Viện Tài nguyên và Môi trường biển Hải Phòng triển khai đề tài “Nghiên cứu giá trị của các hang ngầm và hồ nước mặn (tùng, áng) trên vịnh Hạ Long”, kết thúc vào năm 2017. Đề tài tập trung nghiên cứu về thành phần loài trong các hồ nước mặn và hang ngầm làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác giá trị của các hệ sinh thái tùng, áng một cách bền vững.

19. Công viên Hòn Xếp

Khu vực công viên hòn Xếp có độ sâu mực nước từ 0 - 20m, khu hệ sinh vật bao gồm nhiều nhóm loài khác nhau như thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy, cá biển, bò sát, giáp xác, thân mềm... giống như những khu vực khác trên vịnh Hạ Long, tiêu biểu có cua biển, tôm he, cá vược… Đặc biệt, trên hòn Xếp có nhiều lan hài tập trung và phát triển trong các khe đá. Năm 2015, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã khảo sát, đánh giá và khoanh vùng khu vực này để bảo tồn loài lan hài vệ nữ hoa vàng này.

20. Khu vực Ba Hang

Khu vực Ba hang tập trung một số loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long như Cầy ri Hạ Long, cầy ri Hiệp, nhài Hạ Long, cọ Hạ Long. Đặc biệt, ở đây có loài cây Bông mộc tập trung với số lượng lớn trên khắp các sườn núi đá. Năm 2013, trong khuôn khổ đề tài Nhân giống và trồng thử nghiệm cây Bông mộc, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã thực hiện trồng được 150 cây Bông mộc con tại hòn Núi Lướt và hòn hang Sò. Đến nay, các cây con này đã thích nghi với môi trường mới và phát triển tương đối tốt. Du khách đến với khu Ba Hang sẽ được trải nghiệm dịch vụ chèo đò thăm hang Ba Hang, ngắm các loài thực vật đặc hữu và chiêm ngưỡng màu đỏ rực rỡ của “rừng hoa” Bông mộc trên các sườn núi.


[1] Trên VHL có khoảng 36 áng, 24 tùng.

[2] Lớp 1 mảnh vỏ: Ốc. Lớp 2 mảnh vỏ: Ngao, sò, hà..., Giáp xác: tôm, cua, ghẹ..., Da Gai: hải sâm, sao biển...

[3] Trước đây, những nghiên cứu về giá trị đa dạng sinh học trong HST tùng áng còn rất ít. Từ năm 2015, Ban quản lý vịnh Hạ Long phối hợp với Viện Tài nguyên và Môi trường biển Hải Phòng đã triển khai đề tài “Nghiên cứu giá trị của các hang ngầm và hồ nước mặn (tùng, áng) trên vịnh Hạ Long”. Đề tài sẽ kết thúc vào năm 2017. Đề tài tập trung nghiên cứu về thành phần loài trong các hồ nước mặn và hang ngầm làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác giá trị của các hệ sinh thái tùng, áng một cách bền vững.

[4] Việc nuôi trồng thủy hải sản trong các áng, tùng hiện nay được thực hiện nhiều tại Cát Bà. Tại vịnh Hạ Long, trước đây cũng có một số hộ gia đình nuôi trồng một cách tự phát và đã được chấm dứt. Hiện nay, tại Cửa Vạn có một hộ kinh doanh được cấp phép nuôi trồng hải sản trong áng nằm trên đảo Hang Trai.

[5] Nguồn nước trong hang động ở Vịnh Hạ Long chủ yếu là nước ngầm và nước thấm từ trên mái của các hang động xuống. Nước ngầm: Bao gồm nước dưới đáy của động nằm sâu dưới mực nước biển và nước chảy từ suối ngầm vào. Nước thấm: Thường là nước từ trên mái hang chảy dọc theo các khe nứt của hang động chảy rải rác khắp trong hang. Do có hai nguồn nước với nguồn gốc khác nhau như vậy, tạo ra môi trường nước trong động rất đặc thù đó là các vũng nước ngọt khi động cao hơn mặt biển và cả nước lợ khi có sự hoà trộn giữa nước ngọt và nước ngầm với nhau.

[6] 20 loài động vật hang động chủ yếu thuộc các nhóm:

-  Động vật có vú: 2 loài (1 loài dơi và 1 loài chuột núi);

- Các loài động vật không xương sống gồm 5 loài Giáp xác và 2 loài thân mềm ( 2 loài ốc nhưng chỉ tìm thấy phần vỏ của chúng).

- Các loài sống trong các vũng nước Vịnh Hạ Long: có 8 loài trong đó 2 loài cá và 6 loài giáp xác được coi là các loài đặc hữu của hang động Vịnh Hạ Long;

- Một số loài chim: được ghi nhận sống trong hang động nhưng chưa được nghiên cứu và phân loại cụ thể.

[7] Loài cá đặc hữu VHL: cá Niếc hang. Mẫu vật của loài này được tìm thấy trong vũng nước của hang Đúc Tiền. Chúng có điểm đặc biệt là mắt bị tiêu giảm, hoàn toàn không thấy dấu hiệu của mắt.

6 loài giáp xác đặc hữu gồm: Cua hang (có mắt rất nhỏ và màu đỏ, vàng, loài này hiện nay vẫn còn sống trong hang Hồ Động Tiên thuộc vịnh Hạ Long, trước đây các nhà khoa học thu mẫu tại hang Sửng Sốt); Tôm gõ mõ (có điểm đặc biệt là có 1 càng rất to và 1 càng rất nhỏ, con non màu trắng, con trưởng thành màu đỏ nhạt có chấm xám, sống trong các vũng nước mặn hoá trong hang động); 3 loài giáp xác chân khớp và 1 loài giáp xác chân kiếm.

[8] Một số đặc điểm khác biệt của động vật sống trong hang động tại vịnh Hạ Long: những bộ phận cơ thể không cần thiết như màu sắc cơ thể và mắt bị tiêu giảm; chân và các phần phụ của cơ thể kéo dài; các cơ quan cảm giác (ngoại trừ thị giác) phát triển mạnh.

[9] Các loài sinh vật đã được nghiên cứu sống trong HST này gồm: 129 loài Rong biển, khoảng 10 loài san hô, 51 loài Giun nhiều tơ, 60 loài ốc, 75 loài hai mảnh vỏ, 70 loài Giáp xác, 12 loài Da gai và 2 loài Hải miên, 2 loài Bò sát (rắn nước, Kỳ đà), 21 loài Chim nước, 3 loài rái cá.

 

[10] Các bãi đặc sản:

- Tuần Châu: Sò huyết, Sò lông;

- Cửa Lục đến Cát Hải: Ngao, ngán, ngó;

- Tuần Châu, Phù Long: Giá biển, Sâu đất, Bông thùa;

- Sông Chanh (Quảng Yên): Hàu sông.

[11] Nền đáy bị tác động của sóng biển và dòng triều lên xuống trong ngày.

[12] Tên khoa học của Cua ma: Ocypoda ceratophthalma.

[13] Dã tràng: Dotilla wichmanni.

[14] Danh pháp khoa học: Mắm quăn (Avicennia lanata), Sú (Aegiceras corniculatum), Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), Trang (Kaldelia candel), Đước vòi (Rhizophora stylosa), Vạng hôi (Clerodendron inerma).

[15] Hiện trạng của RNM tại VHL: Trước đây, RNM phân bố chủ yếu trong vùng Vịnh Cửa Lục, trên các bãi triều các xã Hùng Thắng, Đại Yên, Tuần Châu, Hoàng Tân, dọc ven biển từ Hạ Long đến Cẩm Phả, Cửa Ông. Những năm gần đây với chủ trương đổi đất lấy công trình và Chương trình lấn biển, các khu RNM quanh Hạ Long – Cẩm Phả dần dần biến mất, thay vào đó là các con đường dọc ven biển, các khu đô thị, xí nghiệp, nhà máy, công viên mọc lên, xa hơn về phía Tây (Tuần Châu, Đại Yên, Hùng Thắng, Hà Khẩu)  là những khu đầm nuôi tôm công nghiệp. Diện tích rừng bị thu hẹp một cách báo động, toàn bộ thực vật ven bờ Bãi Cháy và Hòn Gai đã bị phá hoàn toàn để biến thành các khu nhà biệt thự, khu vui chơi giải trí.

 

[16] Đặc biệt là các giống PoritesGoniopora. Các giống san hô này thích nghi tốt với độ đục cao, chống chịu với sự ngọt hoá tốt, khả năng phục hồi nhanh. Một đặc trưng cơ bản để thích nghi tốt với điều kiện môi trường nước tại Hạ Long.

[17] Do Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện nhằm đánh giá hiện trang san hô trên vịnh Hạ Long năm 2015.

[18]Cụ thể thành phần loài sống trong rạn san hô: 180 loài Thực vật phù du, 104 loài Động vật phù du, 129 loài Rong biển,118 loài Giun đốt, 11 loài Bọt biển, 230 loài Thân mềm, 77 loài Giáp xác, 15 loài Da gai, 155 loài cá biển

[19] Xem danh mục tại Hệ sinh thái thảm thực vật trên các đảo.

[20] Xem danh mục các loài tại Hệ sinh thái thảm thực vật trên đảo

[21] Tài liệu tham khảo thêm: Đa dạng sinh học vịnh Hạ Long và vùng phụ cận.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hệ sinh thái thảm cỏ biển

 

Hệ sinh thái rạn San hô

 
Nous avons 78 invités en ligne

SƯU TẬP ẢNH

Bannière

ÂM NHẠC

VIDEO CLIP