Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Giá trị Văn hoá Lịch sử

Imprimer
There are no translations available.

CÁC DI TÍCH VĂN HÓA VÙNG VỊNH HẠ LONG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

A. CÁC DI TÍCH THỜI TIỀN SỬ VÀ SƠ SỬ

I. Khu vực Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi cư trú của người Việt cổ:

Dựa vào các tài liệu Khảo cổ học, thì dấu tích sớm nhất của con người có mặt trong khu vực Vịnh Hạ Long thuộc về chủ nhân nền văn hóa Soi Nhụ. Kế tiếp là chủ nhân văn hoá Cái Bèo với mối liên hệ với biển đầu tiên và sau cùng là văn hoá Hạ Long.

Văn hoá Hạ Long là một nền văn hoá có vai trò rất quan trọng trong nền văn minh Việt cổ, đánh dấu sự tiếp xúc khá phổ biến của cư dân Việt cổ với nền kinh tế biển, tạo ra nền văn hóa biển đặc sắc ở Việt Nam.

1. Văn hóa Soi Nhụ:

- Niên đại: cách ngày nay 18000 - 7000 năm.

- Địa bàn cư trú: các đảo đá vôi thuộc vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long và các hang động ven bờ.

- Thời kỳ này, khu vực Hạ Long và Bái Tử Long vẫn ở chế độ  lục địa và đường bờ biển cách xa bên ngoài khu vực này.

- Di chỉ và di vật: di chỉ Soi Nhụ, di chỉ Mê Cung, di chỉ Tiên Ông, di chỉ Thiên Long…Các di vật còn lại chủ yếu là công cụ đá, cùng những di tích xương răng động vật và vỏ ốc núi và ốc suối cùng một số nhuyễn thể nước ngọt khác. Chúng là tàn tích thức ăn của người nguyên thủy xưa.

- Phương thức kiếm sống: Ở giai đoạn văn hóa Soi Nhụ, cư dân cổ thực hành săn bắt, hái lượm, khai thác nhuyễn thể nước ngọt.

- Công cụ lao động: được chế tác bằng đá có hình dáng không ổn định. Kỹ thuật chế tác rất đơn giản bằng phương pháp ghè đẽo một mặt, phương pháp chặt bẻ và rất ít tu sửa một cách hệ thống và qui chỉnh.

2. Văn hóa Cái Bèo:

- Niên đại: cách ngày nay 7000 - 5000 năm. Đây là giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ và văn hóa Hạ Long.

- Đây là thời kỳ biển tiến. Vùng Vịnh Hạ Long được hình thành. Một số di tích hang động văn hóa Soi Nhụ đã bị nước biển nhấn chìm.

- Địa bàn cư trú: trên bờ vũng vịnh kín gió, tựa lưng vào núi, mà chủ yếu là núi đá vôi. Độ cao của các di chỉ này so với mực nước biển hiện tại vào khoảng 2-6m.

- Di chỉ và di vật: di chỉ Cái Bèo (Cát Bà - Hải Phòng), di chỉ Giáp Khẩu (Bãi Cháy), di chỉ Hà Giắt (Vân Đồn). Di vật chủ yếu là các công cụ ghè đẽo được chế tác từ những hòn cuội granite rất phổ biến tại các vùng Vân Đồn, Ba Chẽ, Tiên Yên…, những hòn chì lưới, những đống xương cá hoá thạch…Di chỉ Cái Bèo là một trong những bằng chứng điển hình khẳng định tổ tiên của người Việt cổ đã bắt đầu tiến ra biển khơi để chinh phục và khai thác biển cả, và đã tạo nên một nền văn hóa mang sắc thái đặc biệt: Văn hóa biển

- Phương thức kiếm sống: trước hết là định hướng khai thác biển ven bờ và sau đó là kết hợp với các phương thức kiếm sống truyền thống như săn bắt thú rừng, thu lượm rau củ, hoa quả trong thiên nhiên.

- Đặc trưng:

+ Công cụ lao động: thường rất đơn giản, chủ yếu là các công cụ mũi nhọn. Kỹ thuật ghè đẽo chủ yếu là ghè một mặt  và có thể ghè những nhát cách quãng ở mặt đối diện để tạo rìa lưỡi.

+ Gốm Cái Bèo ở giai đoạn đầu thì thô, dày, nặng và loại hình đơn giản. Giai đoạn sau là gốm mịn, văn thừng, loại hình phong phú hơn.Gốm xốp bắt đầu xuất hiện với số lượng ít thể hiện bước phát triển mạnh mẽ của người tiền sử.

3.Văn hóa Hạ Long:

+ Các di chỉ khảo cổ học thời tiền sử Hạ Long được phân bố hầu hết các nơi trên Vịnh, với một qui mô rộng khắp, thể hiện sự phát triển rực rỡ của một nền văn hoá mang đậm sắc thái của cư dân vùng biển.

+ Văn hóa Hạ Long có niên đại 4500 - 3500 năm cách ngày nay và được chia ra làm 2 giai đoạn : sớm và muộn.

Giai đoạn sớm:

- Địa bàn cư trú: Do biển tiến Holoxen trung (khoảng 6000 - 5000 năm trước), đợt biển tiến này làm mất đi môi trường sống quen thuộc của cư dân văn hoá Cái Bèo, khiến cho một bộ phận cư dân phải di chuyển lên phía Đông Bắc và những vùng đất cao hơn, tại đây, họ tạo nên giai đoạn sớm của văn hóa Hạ Long.

- Di chỉ và di vật: di chỉ Thoi Giếng, di chỉ Gò Mừng, di chỉ xóm Chùa, di chỉ thôn Nam …Các di chỉ tập trung chủ yếu ở các xã Vạn Ninh, Hải Đông, Hải Tiến thuộc thành phố Móng Cái hiện nay. Di vật được tìm thấy như: công cụ chặt đập thô, công cụ nạo hình đĩa, rìu, bôn, chày, bàn mài, vòng đeo tay, khuyên tai, khánh đeo cổ….. Phát triển kỹ nghệ mài, tạo nên những chiếc rìu mài lưỡi, mài lan thân và một bộ sưu tập rìu, cuốc đá. Phát triển nghề thủ công làm gốm bàn xoay và chế tác công cụ đá.

- Phương thức kiếm sống: săn bắt, hái lượm, canh tác, trồng cây lấy sợi, rau củ quả, tăng cường khai thác biển.

Giai đoạn muộn:

- Địa bàn cư trú: Do mực nước biển dâng cực đại rồi sau đó rút dần (trong khoảng 4000 - 3000 năm trước). Khi biển lùi, các cư dân văn hóa Hạ Long giai đoạn sớm có sự chuyển cư ngược lại. Theo nước thủy triều, họ tiến dần ra biển. Địa bàn cư trú của cư dân văn hóa giai đoạn muộn tương đối phong phú, bao gồm: hang động, chân núi ven biển, doi cát, các bậc thềm và mặt đồng bằng cổ.

- Di chỉ và di vật:

+ Hang động: di chỉ hang Bái Tử Long, di chỉ hang Soi Nhụ dưới.

+ Ngoài trời: di chỉ Ngọc Vừng, di chỉ Đồng Mang, Xích Thổ…

+ Kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm khá hoàn hảo, trở thành đặc trưng của văn hóa Hạ Long.

+ Bộ công cụ lao động tìm thấy chủ yếu là bằng đá, loại hình độc đáo, thể hiện kỹ thuật chế tác ở trình độ cao : công cụ mũi nhọn, bôn có vai có nấc... Bên cạnh kỹ thuật ghè đẽo và mài còn có sự tham gia chủ yếu của kỹ thuật cưa, chuốt bóng và kỹ thuật tạo nấc rất độc đáo đã tạo ra được một bộ công cụ rất phong phú, gồm rìu có vai, bôn có vai có nấc, công cụ xoè lệch, bôn xoè cân, rìu xoè cân, bàn kê, chày nghiền, bàn mài chì lưới, đục mũi nhọn, vòng đá. Những công cụ này không chỉ đơn giản để làm nông, mà chúng còn có thể dùng để xây dựng nhà cửa, chế tạo thuyền bè và vô số loại vật dụng khác.

+ Phát triển nghề thủ công làm gốm với sự trợ giúp của kỹ thuật bàn xoay, hoa văn trang trí chủ yếu là văn thừng, các dải hoa văn đắp nổi, văn khắc vạch, gắn đắp chân đế. Đồ gốm phát triển mạnh mẽ, nhiều loại hoa văn trang trí tạo ra đặc trưng riêng của văn hóa Hạ Long.

- Phương thức kiếm sống: phương thức kiếm sống của cư dân văn hóa Hạ Long giai đoạn muộn đã cơ bản gắn với môi trường biển cả, kết hợp duy trì phương thức kiếm sống trên cạn.

II. Giá trị Lịch sử và văn hóa

-    Văn hóa Soi Nhụ là trang sử đầu tiên, đánh dấu sự có mặt của cư dân nguyên thủy trên vùng Vịnh Hạ Long. Với sự lao động cần cù và sang tạo, cư dân Soi Nhụ đã tạo nên nền văn hóa đặc sắc, có vị trí quan trọng trong diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam.

-     Ở giai đoạn văn hóa Cái Bèo và Văn hóa Hạ Long, lần đầu tiên, cư dân Việt cổ  tạo nên diện mạo văn hóa Biển nổi bật trên nền tảng văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước của dân tộc Việt Nam. Những giá trị cơ bản của văn hóa Hạ Long là một trong những tiền đề đặc biệt quan trọng góp phần để phát triển nền văn minh Việt cổ, góp phần tạo dựng non nước Văn Lang- Âu Lạc các vua Hùng- An Dương Vương.

B. TỔNG QUÁT CÁC DI TÍCH QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

I. Khu vực vịnh Hạ Long là nơi ghi dấu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân  tộc.

1. Trong các thời đại quân chủ Phong kiến :

Với vị trí chiến lược quan trọng, ngay từ thế kỷ XII (năm 1149) dưới triều vua Lý Anh Tông, trong khu vực VHL, thương cảng Vân Đồn đã được thành lập. Đây không chỉ là một bến cảng mà là một hệ thống gồm nhiều bến thuyền thương mại trên các đảo quây quần trên vùng vịnh Bái Tử Long. Ngày nay những dấu tích về những bến thuyền cổ còn tìm thấy khá dày đặc, phong phú tại các khu vực đảo Cống Đông, Cống Tây, Vân Hải, Quan Lạn…Hàng vạn mảnh gốm sứ đặc trưng cho các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Mạc cùng nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật . Bên cạnh những dấu tích đồ sộ của các thuyền cổ ngày nay chúng ta còn phát hiện nhiều dấu tích của các công trình văn hóa như : đình, chùa, đền, miếu, tháp: chùa Lấm, chùa Trong, chùa Cát và cụm di tích đình, đền, chùa Quan Lạn.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, VHL còn là nơi ghi dấu những chiến công hào hùng của dân tộc từ thế kỷ X đến thế kỷ XX, đó là: Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán (năm 938), Lê Hoàn đánh thắng quân Tống (năm 981), Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên Mông (năm 1288). Hiện nay, khu vực Vịnh Hạ Long còn có nhiều di tích lịch sử và di chỉ văn hoá như: Đình Quan Lạn, chùa Lấm, đền Bà Men... Đặc biệt người dân vùng biển Hạ Long vẫn lưu giữ được những nét văn hoá truyền thống độc đáo, phong phú từ bao đời. Nó được thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ, lễ hội, kinh nghiệm, phản ánh tâm tư, tình cảm được truyền từ đời này qua đời khác. Đó là các giá trị văn hoá phi vật thể mang đặc trưng của vùng biển như: Hò, vè, hát đám cưới, hát giao duyên, hò biển và nhiều lễ tục truyền thống như: lễ giở mũi thuyền, tục trồng cây Nêu….Những giá trị văn hoá này hiện vẫn là một “cửa ngỏ”, một “mảnh đất đầy hứa hẹn” cho các nhà nghiên cứu, những người yêu quý, tôn vinh truyền thống văn hoá dân tộc.

Và lịch sử cũng không quên những chiến công vang dội của quân và dân Quảng Ninh trên vùng VHL qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần bảo vệ hòa bình cho Tổ quốc. Có những di tích, những sự kiện trở thành bất tử trong lòng mỗi người dân Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng.

2. Trong thời lịch sử cận, hiện đai

2.1. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp:

+ Hang Đúc Tiền: nằm ở phía Đông Nam đảo Vạn Gió (trên bản đồ có ký hiệu là hòn 376, dân gian gọi là núi Cánh Quít). Đây là căn cứ của nghĩa quân Đề Hồng, Cai Thái, nghĩa quân lập xưởng đúc súng, đúc tiền để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

+ Ngày 1.5.1930, lá cờ đỏ búa liềm tung bay phấp phới trên đỉnh núi Bài Thơ, đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào đấu tranh cách mạng - của giai cấp công nhân vùng mỏ, góp phần đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp.

+ Ngày 24.3.1946, Hồ Chủ Tịch hội đàm với cao uỷ Pháp Đác-Giăng-Liơ trên chiến hạm Emin-bec-tanh trên vịnh Hạ Long.

2.2. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

+ Vào đầu những năm 60 của thế kỷ 20, những chuyến tàu không số xuất phát từ khu vực Hạ Long tiến vào Miền Nam mang theo vũ khí, đạn dược….góp phần vào chiến thắng vẻ vang của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển).

+ Vịnh Hạ Long chứng kiến lần tập kích và thất bại đầu tiên bằng không quân của không lực Hoa Kỳ khi chúng mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày 5.8.1964 cùng với sự kiện bắt sống tên giặc lái Mỹ đầu tiên: phi công An-Va-Ret.

II. Các di tích tiêu biểu: Để làm rõ được giá trị các di tích lịch sử nói trên, chúng tôi sẽ điểm qua từng khu di tích một, ở mỗi di tích, chúng tôi sẽ nêu các giá trị lịch sử và văn hóa.

1. Đảo Tuần Châu

Nguồn gốc tên gọi: Từ Thế kỷ thứ XI Tuần Châu đã được xác định  nằm ở vị trí quan trọng, giữa cửa ngõ con đường thuỷ Thăng Long-Bạch Đằng-Vân Đồn rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán. Cùng với việc mở cửa thương cảng Vân Đồn, nhà Lý rồi nhà Trần đặt ở đây 1 Đồn Suất Ti Tuần để thu thuế và kiểm soát các thuyền bè qua lại, đồng thời lập ra một đơn vị hành chính cấp Châu do 1 viên Tri Châu cai quản. Để phân biệt Đồn Suất Ti Tuần ở đây với các nơi khác, người ta đã lấy từ cuối của cụm từ Suất Ti Tuần là “Tuần” gắn với tên đơn vị hành chính là “Châu” thành tên Tuần Châu để chỉ hòn đảo này.

Giá trị văn hóa lịch sử:

- Tuần Châu là một trong những điểm cư trú của người tiền sử: Năm 1938, các nhà khảo cổ học tìm thấy trên đảo những di chỉ khảo cổ thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng 3.500 năm đến 2.500 năm (ở xóm Nam, xóm Đông và xóm Kèo).

- Ngày 30/3/1959, Bác Hồ về thăm cán bộ và nhân dân xã đảo. Thấy hòn đảo xinh đẹp và tiềm năng phát triển nơi đây Bác đã căn dặn: hãy biến Tuần Châu thành “Ngọc Châu”. Trên đảo hiện còn lưu giữ căn nhà nơi Bác đã dừng chân nghỉ ngơi trong những ngày tới thăm đảo.

- Năm 1963 Bác đến thăm làng cá đảo Tuần Châu (theo Dư địa chí QN tập 2).

2. Các di tích trong vùng Vịnh Hạ Long

2.1. Động Thiên Cung

- Khu vực biển đảo quanh động Thiên Cung là một trong những nơi ghi dấu sự kiện lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Pháp của công nhân, nhân dân vùng biển Đông Bắc. Theo sách Dư Địa chí Quảng Ninh, vào thời gian từ năm 1892, đông đảo thợ mỏ Cẩm Phả, Kế Bào tham gia cuộc khởi nghĩa của Lãnh Pha, Lãnh Hy, họ đã chọn vùng biển Hạ Long làm căn cứ để tấn công vào các mỏ than Kế Bào, Cẩm Phả. Trước thế ngày càng mạnh của 2 cuộc khởi nghĩa này, thực dân Pháp đã điều binh đoàn Cla-mooc-găng đến đàn áp. Quân Pháp vây ráp, truy lùng trên các đảo thuộc Vịnh Hạ Long hàng tháng trời không dẹp nổi cuộc khởi nghĩa. Trong một cuộc chiến không cân sức tại khu vực đảo Đầu Gỗ, nhiều quân sỹ khởi nghĩa đã ngã xuống. Để tưởng nhớ sự kiện này, người dân quanh vùng đã thờ  phụng ở ngôi miếu nhỏ tại khu vực phía Tây đảo Đầu Gỗ. Hiện nay vào ngày rằm, mồng một, người đi biển và ngư dân địa phương vẫn thường qua đây thắp hương để cầu mong sự bình an và ghi nhớ công ơn những người đã ngã xuống trên vùng biển Hạ Long.

- Trong quá trình tôn tạo động Thiên Cung, công nhân thi công và cán bộ bảo tồn đã tìm thấy những mảnh gốm, vại sành, chum…các hiện vật đó đã chứng tỏ nơi đây đã từng là điểm dừng chân tránh bão của ngư dân trên Vịnh Hạ Long trước kia.

2.2. Hang Đầu Gỗ

-    Năm 1918, vua Khải Định cùng toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ là Sa-rô (Albert Pierre Sarraut) từ Hải Phòng đi tàu thuỷ đến thăm vịnh Hạ Long và lên tham quan hang Đầu Gỗ. Nhà vua cho quan sở tại Quảng Yên dựng tấm bia đá tại phía trái cửa hang để ghi lại dấu ấn của chuyến đi. Tấm bia cao 1,6m; rộng 0,9m, hoa văn trang trí thời Nhà Nguyễn. Hoạ tiết phía trên của bia đá có hình “Lưỡng long chầu nhật” (Đôi rồng chầu vào mặt trời), thể hiện âm dương luân hồi. Xung quanh là cảnh trí “Long vân kỳ ngộ” (Rồng, mây hoà quyện vào nhau). Phía dưới khắc hình con Lân thuộc tứ linh (Long, Lân, Quy, Phượng) là bốn loài vật linh thiêng được tôn thờ ở các đình, chùa, miếu mạo của dân tộc Việt Nam. Đế bia được chạm khắc công phu đầu hổ phù ngậm chữ “Thọ” kiểu chân quỳ tạo thế vững chãi, uy nghiêm, cổ kính.

Nội dung tấm bia đá ở hang Đầu Gỗ:

Một buổi sớm mùa xuân năm Mậu Ngọ (1918), Trẫm đi tuần du phía Bắc, cùng với toàn quyền Sa-rô (Albert Pierre Sarraut) từ Hải Phòng đi tàu thủy đến thăm Lục Hải (Hạ Long), ngược lên sông Lục Đầu, ngang qua động đá kỳ quan này. Nhân bước xuống thuyền con ghé vào bờ, dắt tay nhau bước vào cửa động.

Những thấy: Vách động mở ra, ánh đá lấp lánh; Rạng rỡ muôn sao la liệt, phô bày ngũ sắc lung linh. Móc nhỏ giọt, ráng rồng bay, từng đám khoe sắc. Bấy giờ phóng tầm mắt nhìn khắp, thì thấy: hoặc phô vẻ xanh lam, hoặc khoe màu vàng óng, vệt sáng dòng son, dáng vẻ không sao tả xiết. Rõ ràng một áng mây lành lúc ẩn lúc hiện thường xuyên bao phủ. Liền leo lên xuyên qua đám u tịch để thỏa trí thưởng ngoạn cảnh tao nhã này, rồi theo thú đăng lâm mà dạo bước, bất giác dấy lên cảm hoài. Nhân đó, ban cho tên động là Ngũ sắc tường vân. Lại làm được bài thơ ngũ ngôn có 12 vần và cả bài tựa dẫn. Sai quan tỉnh thần Quảng Yên cho thợ khắc bia đá, đặt ở cửa động, một là để ghi lại sự khéo léo của tạo hóa, hai là để ghi lại tình cảm giao hiếu mặn mà. Còn như bảo rằng vẽ thêm hoa trên gấm vóc, thì hãy đợi các tao nhân mặc khách đời sau.

- Tháng 10 năm 1957, Hồ Chủ Tịch đến thăm hang Đầu Gỗ. Tại đây, Bác đã nói với mọi ngư¬ời đi cùng: “Cảnh đẹp một người không thể truyền lại cho nhiều người. Tất cả các chú phải cùng Bác thưởng thức” như muốn nhắn gửi tới tất cả du khách hãy đến thăm hang Đầu Gỗ, vẻ đẹp nơi đây không thể nói, không thể diễn tả hết bằng lời, có thế chúng ta mới thấy được vẻ đẹp diệu kỳ ở trong lòng các đảo đá của Hạ Long.

2.3. Động Thiên Long

Động Thiên Long được phát hiện vào tháng 7 năm 1994. Năm 1997, nhà khảo cổ học Hà Hữu Nga đã tiến hành nghiên cứu và xác định di tích này thuộc nền văn hóa Soi Nhụ. Lớp trầm tích văn hóa ở đây có màu nâu ngả vàng trong đó có nhiều vỏ ốc nước ngọt Melania, vỏ ốc núi Cyclophorus và một vài vỏ nhuyễn thể khác như: Hến sông, trầm trục, vỏ sò, vỏ trai. Tầng văn hóa ít nhiều đã bị xáo trộn do cấu trúc phức tạp của hang và một số hoạt động du lịch trước đây tại hang.

2.4. Động Mê Cung

Động Mê Cung là một di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hóa Soi Nhụ. Trên một diện tích165m2, phủ một lớp trầm tích vỏ ốc đã bị Cacbonat hoá màu trắng. Một điều đặc biệt, những vỏ ốc đó không phải là những vỏ ốc biển mà là ốc suối Melania - ốc nước ngọt, chứng tỏ rằng con người đã cư trú ở đây từ khi Hạ Long chưa là biển. Trên vách phải cửa động một lớp trầm tích dày 0,80m2, đây là tầng văn hoá đã bị những người phát hiện động sửa chữa và san bằng tạo thành mặt bằng cửa động. Đây chính là di vật còn sót lại giúp các nhà khoa học nghiên cứu về nền văn hóa nơi đây. Bằng các nghiên cứu khoa học, các nhà khảo cổ đã khẳng định Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi của người Việt cổ. Căn cứ vào lớp trầm tích vỏ ốc hoá thạch tại đây, các nhà khoa học đã xác định động Mê Cung là một trong số các di tích khảo cổ thuộc văn hoá Soi Nhụ. Mặc dù tầng văn hoá đã bị xáo trộn rất nhiều, tuy nhiên những di vật còn sót lại cũng đủ để khẳng định rằng vào thời điểm đó chắc chắn VHL vẫn còn là môi trường lục địa với những con sông, suối nước ngọt và nguồn thức ăn phong phú. Người nguyên thuỷ đã biết sử dụng những mái đá, vòm hang để làm nơi cư trú, tránh mưa nắng và thú dữ. Thức ăn chủ yếu là nhuyễn thể nước ngọt, phương thức sinh sống là thu lượm hoa quả, ốc, hến tại những con sông, suối. Người nguyên thuỷ đã biết sử dụng những hòn đá, mảnh tước thô sơ để làm công cụ lao động như: chặt, ghè, nghiền thức ăn. Một số vỏ ốc tại đây còn bị cháy xém, điều đó giúp ta khẳng định rằng, thời kỳ đó, người nguyên thuỷ đã biết dùng lửa để nướng thức ăn.

Tại ngăn thứ 3 của Động, năm 1996 người ta đã phát hiện 1 bộ xương thú bán hóa thạch hầu hết đã bị vỡ vụn trong đó còn 4 xương ống. Bộ xương này được xác định có niên đại cùng thời với trầm tích vỏ ốc suối. Có giả thiết cho rằng đây có thể là linh vật dùng trong nghi lễ cũng tế của người tiền sử.

Công cụ đá ở vách động: Công cụ này được nhóm cán bộ chuyên môn của BQLVHL phát hiện ra trong một chuyến đi khảo sát vào tháng 10 năm 2008. Nó được mài nhẵn, dày khoảng 1,5 - 2cm, rộng 4cm, dài chừng 30cm(chưa kể phần mũi đã bị nhũ đá bao phủ), có chuôi có thể cầm tay hoặc tra cán. Theo nhận định ban đầu của  PGS.TS Trình Năng Chung, chuyên gia nghiên cứu về văn hoá thời đại đá - Viện khảo cổ học Việt Nam, đây có thể là một mũi lao đá của người tiền sử, có công dụng để tự vệ hoặc săn bắt thú. Theo ông, đến thời điểm này, đây là mũi lao đá dài nhất được phát hiện ở Việt Nam.

Trong chuyến khảo sát hang này vào tháng 5 năm 2016, PGS.TS Trình Năng Chung nhận định chiếc lao này là vật tùy táng được chôn theo mộ của cư dân văn hóa Hạ Long. Những căn cứ khoa học dẫn đến nhận định trên là:

(1). Khu vực chứa mũi lao đó đã bị các người thời nay nạo vét sạch sẽ, tạo mặt bằng cho du khách đi lại dề dàng. Việc nạo vét mặt bằng hang khá sâu, khoảng gần 1m, vô tình đã bốc đi những xương cốt (thường đã gẫy nát), làm xuất lộ mũi lao đá nằm sát vách hang. Mũi lao đá mài nhẵn là sản phẩm của cư dân hậu kỳ đá mới, cụ thể ở Mê Cung là thuộc về thời kỳ văn hóa Hạ Long.

(2). Tài liệu khảo cổ học ở hang Bái Tử Long (thuộc t/p Cẩm Phả), hang Đông Trong I và Đông Trong II (thuộc huyện Vân Đồn) cho thấy, chủ nhân văn hóa Hạ Long thường chôn người chết trong hang, kể cả những hang động ngoài biển, và thường chôn theo đồ tùy táng là các công cụ, vũ khí, đồ trang sức v.v...Do vậy, chiếc mũi lao đá tìm thấy ở hang Mê Cung là đồ tùy táng của cư dân văn hóa Hạ Long được chôn cất tại đây.
Như vậy, tại hang Mê Cung có dấu tích của 2 thời kỳ văn hóa:

-    Nơi cư trú của cư dân văn hóa Soi Nhụ, biểu hiện ở khối trầm tích chưa vỏ ốc nước ngọt, phân bố chủ yếu ở cửa hang (nơi nhận được ánh sáng chiếu cả ngày). Niên đại từ 18.000- 7.000 năm cách nay.

-    Nơi chôn cất của người thuộc văn hóa Hạ Long (sâu trong hang, thiếu ánh sáng). Niên đại từ 4.5000 3.500 năm cách ngày nay.

2.5. Hang Bồ Nâu

Hang Bồ Nâu là một trong số các di chỉ khảo cổ hang động thuộc nền văn hoá Soi Nhụ cách ngày nay từ 18.000 - 7.000 năm. Dấu tích cư trú của người tiền sử nằm ở vách phía Tây Bắc, gần cửa hang cách mực nước biển 5- 7m. Diện tích tầng văn hoá còn lại khoảng 20m2, chiếm một phần nhỏ diện tích bề mặt hang và nằm rải rác dưới những tảng đá lớn. Các trầm tích văn hóa ở đây hầu hết đều bị rửa trôi. Vết lộ của tầng văn hoá cho thấy thành phần chủ yếu là ốc suối Melania và ốc núi Cyclophorus phần lớn đã bị mất đuôi. Ngoài ra, còn thấy xuất hiện các vỏ sò, vỏ ốc nước mặn. Thành phần cấu tạo tầng văn hoá gần gũi với di chỉ hang Đục, hang Soi Nhụ.

2.6. Hang Luồn

Hang Luồn là một trong số các di chỉ khảo cổ hang động thuộc văn hoá Soi Nhụ cách ngày nay từ 18.000 - 7.000 năm. Trên các vách hang và phía trong có nhiều quần thể Ostrea, các lớp trầm tích vỏ ốc suối, ốc núi và nhuyễn thể nước ngọt bám ở độ cao 3 - 4m so với mực nước biển. Điều đó đã chứng tỏ trong một khoảng thời gian tương đối dài nơi đây là môi trường lục địa. Đây là một trong những tư liệu quý để nghiên cứu về khí hậu, môi trường sống từ thời tiền sử tại khu vực Vịnh Hạ Long.

2.7. Hang Trống

Hang Trống là một trong số các di chỉ khảo cổ hang động thuộc nền văn hoá Soi Nhụ, có niên đại cách ngày nay từ 18.000 - 7.000 năm. Tại hai cửa phía Tây Bắc và Đông Nam đều thấy dấu vết của các lớp trầm tích màu nâu ngả vàng và lớp vỏ ốc nước ngọt Melania và ốc núi Cyclophorus. Bên cạnh đó, còn có một số nhỏ các loài nhuyễn thể nước ngọt khác như: Trầm trục, vỏ sò, vỏ trai.

Trong cuộc khảo sát vào tháng 10 năm 2015, các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở đây công cụ lao động bằng đá ghè đẽo, và xương răng động vật nằm lẫn ngay trong tầng ốc. Điều này chứng tở, hang Trống là nơi cư trú lâu dài của cư dân tiền sử nơi đây.

2.8. Hang Trinh Nữ

Hang Trinh Nữ là một trong những di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hóa Hạ Long, cách ngày nay khoảng 4.500 năm. Hiện tại, phía bên trái cửa hang, còn một lớp trầm tích mỏng, diện tích khoảng 4m2 nằm phía dưới một tảng đá lớn gồm vỏ sò, ốc suối vỡ vụn và những mảnh gốm xốp, vụn, bở pha lẫn vỏ sò mang đặc điểm của gốm văn hóa Hạ Long. Tuy nhiên, do vị trí tầng di tích nằm gần cửa hang, cạnh đường đi, chịu tác động của thủy triều (những ngày nước lớn), là nơi có nhiều khách du lịch và ngư dân qua lại thường xuyên lên hang trú ẩn mỗi khi mưa bão, do vậy, tầng văn hóa ở đây gần như bị phá huỷ hoàn toàn.

Trước cửa hang, ngay mép nước biển hiện còn rất nhiều mảnh sành sứ vỡ, chứng tích của một bến thuyền cổ có niên đại thế kỷ XIV- XVI.

2.9. Hang Hồ Động Tiên

Hang Hồ Động Tiên nằm tại khu vực lạch Giải - một trong số những tuyến đường mà thuỷ quân ta đã len lỏi qua các núi đá và sử dụng các hang động nơi đây làm tuyến phòng thủ, chống lại thuỷ quân của địch trong những năm tháng chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Theo Sách Hạ Long lịch sử thì nơi đây, dưới triều Vua Tự Đức, loạn lạc xảy ra khắp nơi, các hang động trên vịnh Hạ Long đã trở thành các căn cứ bí mật và là sào huyệt vô cùng lợi hại của các phong trào chống đối chính quyền Nhà Nguyễn. Khu vực Lạch Giải còn là một trong những tuyến đường thuỷ, là điểm xuất phát của hàng trăm chuyến tàu không số trong hành trình “Đường Hồ Chí Minh trên biển” chở vũ khí, đạn dược, thuốc men từ miền Bắc để chi viện cho các chiến sỹ và đồng bào miền Nam góp phần làm lên chiến dịch lịch sử Mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước.

2.10. Đảo Ti Tốp (Đảo Cát nàng)

Đảo Titôp là một trong những di tích lưu niệm về chủ tịch Hồ Chí Minh đối với VHL nói riêng và đối với tỉnh Quảng Ninh nói chung. Bác Hồ đã hai lần đến thăm đảo, lần thứ nhất vào năm 1957, nhân dịp về thăm vùng mỏ Quảng Ninh, lần thứ hai vào ngày 22/01/1962, Bác cùng với các anh hùng lao động Việt Nam và anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô - Giecman Titop. Mùa hè năm 1997, Giecman Titop đã quay lại thăm hòn đảo mang tên ông. Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang triển khai dự án xây dựng tượng đài bán thân Giecman Ti-tốp trên đảo. Dự án này thể hiện tình hữu nghị Việt – Nga và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhà du hành vũ trụ Giecman Ti-tốp.

2.11. Hang Tiên Ông

Hang Tiên Ông được nhà khảo cổ học J.G Anderson người Thụy Điển phát hiện và nghiên cứu từ năm 1938. Và để tìm hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử văn hóa của hang, tháng 11 năm 2007, Ban quản lý vịnh Hạ Long đã phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Sở Văn hoá Thông tin Quảng Ninh (nay là Sở Văn hoá, thể thao và Du lịch) tiến hành khai quật di chỉ khảo cổ hang Tiên Ông. Đoàn đã tiến hành mở 4 hố khai quật và 01 hố thám sát với tổng diện tích là 42m2. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học thì hang Tiên Ông chính là một trong những điểm cư trú, sinh sống của người Việt cổ thuộc nền văn hoá Soi Nhụ trên vịnh Hạ Long. Di tích có niên đại cách ngày nay khoảng từ 10.000 - 8.000 năm, thuộc giai đoạn văn hóa Hoà Bình - Bắc Sơn. Di vật thu được qua đợt khai quật gồm có đồ đá, đồ xương và đồ gốm. Đồ đá chủ yếu là đá vôi với những chiếc rìu, bôn, mũi nhọn và qua nghiên cứu cho thấy, cư dân nguyên thủy đã sử dụng các kỹ thuật như ghè một mặt và hai mặt, kết hợp với kỹ thuật chặt bẻ, có dấu vết của kỹ thuật mài. Bên cạnh đó, cư dân ở đây còn sử dụng cả cuội, thạch nhũ, vỏ nhuyễn thể để chế tác công cụ dù không nhiều nhưng đã cho thấy tính năng động trong ứng xử thích nghi với môi trường sống của cư dân hang Tiên Ông. Phía dưới chân cột đá lớn là một lượng lớn vỏ nhuyễn thể nước ngọt còn sót lại giống với cồn ốc chạy dọc theo vách hang phía ngoài. Các vỏ ốc nước ngọt ở đây to hơn so với các hang Mê Cung và hang Trống, chứng tỏ thời kỳ cư dân tiền sử nơi đây sinh sống có khí hậu mát mẻ và mưa nhiều, khiến nguồn thức ăn phong phú hơn. Bên cạnh việc khai thác nguồn thức ăn từ các con sông, suối, cư dân tiền sử nơi đây đã làm quen và khai thác các sản vật từ biển. Đây chính là một trong những tiền đề quan trọng cho các nền văn hóa biển nối tiếp ở giai đoạn sau phát triển như: Văn hoá Cái Bèo và Văn hoá Hạ Long.

2.12. Hồ Ba Hầm

Trước cửa hang là một vụng kín gió nên trước đây là nơi neo đậu, sinh sống của một nhóm cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long. Họ chính là chủ nhân lưu giữ nhiều phong tục truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian độc đáo của vùng biển Hạ Long như: hát giao duyên, hát đám cưới, tục giở mũi thuyền, tục trồng cây nêu....

Phía trước Hồ Ba Hầm có đền Bà Men được xây dựng cách ngày nay khoảng trên 200 năm. Hiện trong đền còn có tượng Bà Men và các vị thánh Mẫu. Đây cũng là điểm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng dân gian của người dân vùng biển Hạ Long - Cát Bà.

Gần đó là lạch Cửa Vạn (còn gọi là vũng Tàu Đắm), nơi hiện còn xác chiếc tàu Săng-ti-ly của Pháp bị đắm năm 1905 do đâm vào đá ngầm.

2.13.  Đền Bà Men

Vị trí: nằm ở phía Bắc hòn Cật Bà thuộc đảo Đầu Bê, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 31km về hướng Đông Nam.

Tên gọi: theo truyền thuyết ngày xưa của khu vực miền Trung có 6 người phụ nữ đi biển. Lúc đó trời yên biển lặng, tự nhiên có 1 con sóng lớn nổi lên cuốn cả người và thuyền xuống biển, xác các bà trôi dạt ra vùng biển Hạ Long – Cát Bà, mỗi người một nơi. Vụng nước phía Tây Bắc đảo Đầu Bê là 1 trong 6 địa điểm có xác trôi dạt vào, bà có tên là Men. Ngư dân địa phương đã tổ chức mai táng, lập miếu thờ thắp hương cầu khấn rất linh ứng, từ đó suy tôn bà là vị thần bảo hộ cho họ.

Quá trình xây dựng: Theo ngư dân sinh sống trong khu vực thì đền Bà Men được xây dựng cách ngày nay ít nhất 200 năm. Trước năm 1983, đền vẫn còn là 1 ngôi miếu lợp cỏ tranh nằm sát chân núi, bên trong miếu có đặt 1 tượng phụ nữ, phía sau miếu có 1 ngôi mộ. Ngôi mộ này vẫn ở nguyên vị trí ban đầu qua các lần sửa chữa xây dựng đền. Năm 1983 do thiên tai xảy ra ngôi miếu đã bị hư hỏng, ông Nguyễn Văn Miên và một số ngư dân khu vực vùng Cao Minh (đảo Cát Bà), vùng Hà Nam-Yên Hưng đứng ra xây dựng tôn tạo lại và mở rộng thêm. Hiện nay, trong đền ngoài tượng Bà Men còn có các vị thánh Mẫu, tượng Quan lớn tam phủ (Đạo mẫu).

Kiến trúc: đền được xây dựng theo kiến trúc chữ Đinh, chiều dài 70m, chiều ngang 20m, tọa lạc trên một bãi cát bên vạ núi, cao khoảng 3m so với mực nước biển. Mặt chính của đền hướng về phía Đông Bắc.

Lễ hội: Lễ hội truyền thống của đền Bà Men hàng năm được tổ chức vào ngày 19 và 20 tháng giêng âm lịch. Đây là thời gian ngư dân vùng Hạ Long, Cát Bà tưởng nhớ về công đức của Bà. Cứ vào đầu năm, ngư dân đến đền cầu mong sức khỏe, vạn sự tốt lành, làm ăn may mắn...Cuối năm, vào tháng Chạp lại mang lễ đến để tạ Bà đã phù hộ 1 năm sức khỏe, may mắn, được mùa.Cũng như các lễ hội truyền thống khác, lễ hội đền Bà Men cũng có 2 phần: phần lễ và phần hội. Trước ngày diễn ra lễ hội, ngư dân tiến hành dọn dẹp, treo đèn hội, lập ban thờ. Chủ tế phải giữ gìn sạch sẽ và ăn kiêng. Kết thúc phần lễ, ngư dân nô nức tham gia các trò chơi như đá bóng trên cát, đua thuyền rồng. Hội đua thuyền được chia làm 4 đội, đội nào thắng sẽ nhận được phần thưởng. Bên cạnh đó, theo quan niệm của những ngư dân, nếu đội nào giành được chiến thắng sẽ gặp may mắn cả năm, đánh bắt được mùa.

2.14. Núi Bài Thơ

Núi Bài Thơ nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long, bên bờ VHL xinh đẹp, có độ cao khoảng 200m.

- Thời phong kiến, núi Bài Thơ nằm ở vị trí trọng yếu trên trục đường giao thông huyết mạch, cả đường bộ và đường thủy.

- Từ các triều đại phong kiến xưa, núi Bài Thơ là một trạm đồn trú quan trọng của dải đất biên thùy này. Những người lính ở đây có nhiệm vụ đêm đêm treo ngọn đèn lồng trên đỉnh núi báo hiệu sự bình yên. Những khi có biến, người lính đốt đống lửa to (bằng phân chó sói trộn với củi khô) để những cột khói bốc cao lên báo tin cho các trạm gác tiếp theo và các vùng lân cận. Bởi thế trong lịch sử núi có tên gọi là núi Rọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng.

- Năm 1468, tháng 02 năm Quang Thuận thứ 9, Vua Lê Thánh Tông trong chuyến tuần du vùng Đông Bắc cảm kích trước vẻ đẹp của mây trời non nước Hạ Long, nhà vua đã ứng tác một bài thơ và cho đề vào vách núi. Từ đó núi có tên là núi Đề Thơ, nay gọi là núi Bài Thơ.

Bài Thơ của vua Lê Thánh Tông khẳng định bờ cõi nước Việt là bất khả xâm phạm, đó là chân lý đã được khẳng định và một giai đoạn mới của đất nước bắt đầu bằng việc xây dựng củng cố kinh tế, mở mang dân trí, ngưng việc binh đao. Ngày nay, bài thơ khắc trên vách núi là di tích lịch sử văn hóa của dân tộc, nâng hình ảnh núi Bài Thơ thành biểu tượng văn hóa, niềm tự hào của người dân thành phố Hạ Long.

Nhận nước trăm sông sóng cuộn đầy
Núi bày cờ thế, biếc liền mây
Xưa theo người khác luôn bền trí
Giờ đã tung hoành một chớp tay
Đế Chủ điệp trùng quân hổ mạnh
Hải Đông đã tắt khói lang bay
Trời Nam muôn thuở non sông vững
Yển vũ tu văn dựng nước này.

261 năm sau, chúa Trịnh Cương nhân một chuyến tuần du đến An Bang, sau khi đọc bài thơ của vua  Lê Thánh Tông đã cảm kích và họa lại trên vách đá những lời tha thiết:

“Mênh mông sông tụ, triều lên
Núi in bóng nước, nước in bóng trời
Bàn tay tạo hóa tuyệt vời
Thần kỳ nhuần thấm lòng người bấy nay
Giặc Nguyên xưa bắt ở đây
Giờ hoa xuân nở hương bay quanh người
Cuộc vui ai cũng vui cười
Các quan ca tụng biển trời lặng trong”

Đến thời Nguyễn, Nguyễn Cẩn – quan tuần phủ Quảng Yên đồng thời là nhà thơ có bút danh Hương Khuê, có 2 bài thơ “Đề núi Truyền Đăng”“Trùng đề Truyền Đăng sơn”, nay chỉ thấy bài thứ 2. Ngoài ra còn có nhiều bài thơ khác của những tao nhân mặc khách đã được đề trên núi Bài Thơ (theo Địa chí Quảng Ninh tập 3, trang 112).

- Những sự kiện lịch sử nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ:

* Trong cuộc kháng chiến chống Pháp:

+ Sáng ngày 1/5/1930, nhân dân Hòn Gai được chứng kiến lần đầu tiên lá cờ đỏ búa liềm tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ, báo hiệu giai đoạn đầu của giai cấp công nhân vùng mỏ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Người treo cờ là đảng viên trẻ Đào Văn Tuất tức Nguyễn Thành, công nhân lái xe hoả Nhà sàng Ba Đèo, nhà ở chân núi Bài Thơ. Người may cờ là chị Cả Khương tức Nguyễn Thị Lưu, tức Phan Thị Khương (theo Địa chí Quảng Ninh tập 3, trang 112). Hiện nay, sau 84 năm (1930 - 2014) lá cờ Tổ quốc vẫn hàng ngày tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ.

* Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: (theo Địa chí Quảng Ninh tập 3, trang 112, 756).

+ Trên đỉnh núi có trạm gác phòng không của thị xã và chùm còi báo động, có trận địa pháo 12,7 ly của tự vệ Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai đã tham gia chiến đấu suốt thời kỳ giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc (1964 - 1974).

+ Tại các hang ở sườn phía Đông Bắc núi Bài Thơ là nơi đặt Trung tâm Điện chính thuộc Bưu điện Quảng Ninh với tổng đài và cột ăngten Viba. Hệ thống loa truyền thanh đặt trên sườn núi Bài Thơ là nơi trực tiếp truyền mệnh lệnh chiến đấu của Hội đồng phòng không tỉnh. Gần 100 cán bộ của Trung tâm Bưu chính (với tổ máy, tổ cơ vụ, tổ dây, tổ máy) đã kiên cường bám trụ ở đây để đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt.

+ Năm 2000, Bộ Văn hóa Thông tin có thêm Quyết định số 30 QĐ/VH, ngày 24/11/2000 công nhận Trung tâm Điện chính Bưu điện Quảng Ninh là di tích lịch sử cấp quốc gia.

+ Một số hang động trong núi cũng được sử dụng để làm nơi sản xuất, cư trú, trạm cấp cứu, cửa hàng, lớp học và trụ sợ của nhiều cơ quan, xí nghiệp trong thời kỳ đế quốc Mỹ chống phá.

- Ngày nay núi Bài Thơ đang trở thành một điểm du lịch hấp dẫn đang được đầu tư, tu bổ tôn tạo và khai thác để phục vụ nhu cầu du lịch và văn hóa.

2.15. Chùa Long Tiên

* Quá trình xây dựng: Nằm ở phía Bắc chân núi Bài Thơ. Chùa thờ Phật và các tướng lĩnh nhà Trần có công với nước. Năm 1941, khi phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Quảng Ninh lên cao, muốn dùng tôn giáo để mị dân, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi chùa này. Chùa chính thức được hoàn thành vào ngày 11/6/1941. Nhưng mục đích của chúng không những không thực hiện được mà chùa Long Tiên còn trở thành nơi hoạt động ẩn náu của những cán bộ chiến sĩ cách mạng. Ngôi chùa hiện nay đã được trùng tu và mở rộng, hoàn thiện vào đầu năm 2008.

* Kiến trúc: Chùa mang những nét kiến trúc độc đáo, đặc biệt là cổng tam quan, gồm 3 cửa: Cửa “Hữu”, cửa “Vô”, cửa “Đại”. Trên đỉnh tam quan là tượng phật A-di-đà, phía dưới có gác chuông nổi bật là ba chữ “Long Tiên Tự ” (Chùa Long Tiên). Phía dưới đề “Long tắc linh Tiên tắc danh” (có Rồng thì thiêng có Tiên thì nổi tiếng). Đặc biệt ngoài cổng tam quan còn có tượng Bồ Đề Đạt Ma – Tổ của thiền tông Trung Quốc. Chùa Long Tiên xây theo kiểu chữ nhị (=) gồm ba gian tiền đường và ba gian hậu cung. Hệ thống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường. Mái lợp ngói âm dương. Đặc biệt, các họa tiết hoa văn trong chùa thể hiện rõ đặc trưng phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

- Trong chùa, căn cứ vào cách xếp đặt các pho tượng trong chùa cho thấy tại chùa có phối thờ các tôn giáo chính như Đạo Phật, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, cụ thể như: thờ Phật, thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh nhà Trần, thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Hệ thống tượng ở đây khá phong phú và đặc sắc có giá trị nghệ thuật cao.

* Lễ hội: Hội chùa Long Tiên kéo dài từ tháng Giêng đến hết tháng hai âm lịch hàng năm, thu hút rất nhiều khách thập phương. Chùa Long Tiên là một ngôi chùa lớn nhất ở thành phố Hạ Long. Nơi gửi niềm tin vào thế giới tâm linh của người dân nơi đây.

2.16. Đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn

- Di tích đền Đức Ông (Đền thờ Trần Quốc Nghiễn), thờ Hưng Vũ Vương khai quốc công Trần Quốc Nghiễn, con trai cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và là vị tướng tài trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông vào cuối thế kỷ thứ 13, là người nhân từ đức độ, là người con tận hiếu, là người tôi tận trung. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, nhân dân đã lập đền thờ ông.

* Kiến trúc: Đền quay hướng nam, kiến trúc kiểu chữ đinh gồm ba gian bái đường và một gian hâụ cung được xây cất trên nền đất cao. Trong đền có đầy đủ nghi trượng, bát bửu, các đồ tế khí…

Trong khuôn viên của đền vẫn còn nguyên vẹn một giếng nước cổ xưa, mặc dù nằm sát ngay cạnh biển nhưng nước giếng rất trong và ngọt. Trước cửa đền là cây đa cổ thụ ngày đêm tỏa bóng mát, đã minh chứng cho sự trường tồn của di tích. Dưới gốc đa còn tấm bia đề: “Trần triều Hưng Vũ Vương Đông Hải Đại Vương chứng giám” (Đông Hải Đại Vương Hưng Vũ Vương triều Trần chứng giám).

Tấm bia khắc năm Quý  Sửu (1913) có nội dung sau: “Xét thấy nơi đây (núi Bài Thơ)” sơn thủy hữu tình, đền đài tráng lệ, quả là nơi linh thiêng đệ nhất thiên hạ mà ai nấy đều phải tôn kính. Nay bọn chúng tôi (các chủ thuyền ) từ xa xôi ngàn dặm tới đây, vượt qua bao sóng gió nếu không nhờ vào sức phù trợ của Đại Vương thì làm sao được như thế. Nhưng vì ngôi đền cổ xưa bị gió dập, mưa vùi mà thấy bùi ngùi không nguôi. Tôi họp các bạn thuyền cùng đồng tâm hiệp lực xây dựng lại ngôi đền cổ để việc phục thờ được lâu dài...”.

* Lễ hội: Trước đây, Lễ hội đền Đức Ông được tổ chức vào ngày 24/3 âm lịch (ngày mất của Đức ông Trần Quốc Nghiễn). Bắt đầu từ năm 2008 đến nay, lễ hội đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn được phục dựng lại và được tổ chức vào dịp 29 và 30 - 4 hàng năm.

+ Mở đầu lễ hội là lễ tế thánh tại đền Đức Ông, sau đó rước kiệu long ngai bài vị Đức Ông đi về phía bến phà, qua đền Vụng Đâng và dừng lại ở chùa Long Tiên để làm lễ tế Đức Thánh Trần. Sau khi làm lễ xong, lại rước kiệu về đền Đức Ông. Ngoài lễ rước, hội còn tổ chức hát chầu văn, chèo đường, ca trù...

+ Vào buổi tối đúng dịp lễ hội, diễn ra nghi lễ thả hoa đăng trên biển cầu mong một năm mưa thuận gió hoà cho những người đi biển và những người sống ven biển. Lễ hội đã trở thành nét văn hoá truyền thống của nhân dân TP Hạ Long.

- Giá trị Lịch sử - Văn hóa

Núi Bài Thơ cùng với chùa Long Tiên và đền Đức Ông đã tạo thành cụm lịch sử văn hóa hết sức phong phú đa dạng, chứa đựng giá trị thẩm mỹ và giá trị lịch sử văn hóa đặc sắc. Cụm di tích núi Bài Thơ đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử, thắng cảnh theo Quyết định số 1140/QĐ/BT, ngày 31/8/1992 (Bổ sung khu di tích thắng cảnh vịnh Hạ Long - Quyết định số 313 VH/QĐ, ngày 28/4/1962).

Trầm tích vỏ ốc Di chỉ khảo cổ hang Tiên Ông
Di chỉ khảo cổ Hang Tiên Ông
Di chỉ khảo cổ Động Mê Cung

 

Lễ hội truyền thống của ngư dân Vịnh Hạ Long

Hát giao duyên tại Trung tâm Văn hóa nổi Cửa Vạn

 
Nous avons 155 invités en ligne

SƯU TẬP ẢNH

Bannière

ÂM NHẠC

VIDEO CLIP